Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 27/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 786/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim C, sinh năm 1985 (có mặt). Nơi cư trú: số 935, ấp T, xã A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Trần Anh T, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).

Nơi cư trú: số 122/1, khu phố B, phường L, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ liên lạc: số 53/11/1, đường V, khu phố G, phường I, quận Đ, Thành Phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 * Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Kim C trình bày:

Chị và anh Trần Anh T quen biết kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải vả nên tình cảm không còn nữa. Chị và anh Trần Anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thảo N, sinh ngày 13/3/2009 hiện đang sống cùng anh Trần Anh T. Chị Trần Thị Kim C đồng ý để anh Trần Anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Trần Thị Kim C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Theo bản tự khai ngày 21/10/2019 bị đơn anh Trần Anh T trình bày:

Anh và chị Trần Thị Kim C chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân Phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào năm 2009. Thời gian đầu anh, chị chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong lối sống, suy nghĩ, không có sự đồng cảm về tinh thần, mâu thuẫn càng ngày càng trở nên trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay. Nay chị Trần Thị Kim C yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thảo N, sinh ngày 13/3/2009 hiện đang sống cùng anh Trần Anh T. Anh Trần Anh T đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Trần Thị Kim C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Anh Trần Anh T có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Anh T có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Trần Anh T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim C và anh Trần Anh T chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào năm 2009 nên hôn nhân giữa chị C và anh T là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị C và anh T trình bày thời gian đầu hôn nhân giữa anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải vả nên tình cảm không còn nữa. Chị C và anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh T. Anh T cũng đồng ý yêu cầu ly hôn của chị C. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt được mục đích trên vợ chồng phải yêu thương, chăm sóc và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Hiện nay theo chị C trình bày anh T đã có quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau và yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh T. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị C là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thảo N, sinh ngày 13/3/2009 hiện đang sống cùng anh Trần Anh T. Chị Trần Thị Kim C đồng ý để anh Trần Anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Trần Thị Kim C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên và anh T đồng ý. Vì vậy yêu cầu của chị C là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị C.

[5] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: Không có.

[7] Về án phí: Chị Trần Thị Kim C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim C và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị C.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim C.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kim C được ly hôn với anh Trần Anh T. Về con chung: Giao cháu Trần Thảo N, sinh ngày 13/3/2009 cho anh Trần Anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Kim C tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thảo N mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên.

Chị Trần Thị Kim C được quyền đến thăm con, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

2/ Về án phí:

Chị Trần Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng định kỳ). Chị Trần Thị Kim C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000643 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho nên còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.

3/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 này kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án dân sự, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:27/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về