Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 13/02/2020 về ly hôn, con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 27/2020/HNGĐ-ST NGÀY 13/02/2020 VỀ LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 580/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Mỹ X, sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp BM, xã ĐM, huyện NC, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Quốc D, sinh năm 1995; cư trú tại: Ấp TT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Võ Mỹ X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Phan Quốc D tự tìm hiểu rồi kết hôn năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐM. Sau đám cưới vợ chồng đi làm công ty ở Bình Dương, trong thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng khoảng 05 tháng gần đây vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn, cải nhau do anh D có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Gia đình hai bên có khuyên anh D nhưng anh D không thay đổi. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh D.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Phan Bảo K, sinh ngày 22/4/2019 hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Đi với anh Phan Quốc D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị X.

Tại phiên tòa: Chị X giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Võ Mỹ X khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung với anh Phan Quốc D là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2018, chị X và anh D kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tại UBND xã ĐM, huyện NC, tỉnh Cà Mau. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh D được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị X xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, anh D không có ý kiến đối với nguyên nhân mâu thuẫn do chị X trình bày. Như vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn do chị X xác định thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định anh D không thật sự còn quan tâm hay tha thiết gì đến mối quan hệ hôn nhân với chị X, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa chị X xác định trong thời gian ly thân vợ chồng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Hiện nay chị không còn tình cảm đối với anh D, do đó chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với anh D.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị X và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X về quan hệ hôn nhân.

[5] Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tính đến ngày xét xử cháu K chưa được 09 tháng tuổi, hiện đang sống chung với chị X có điều kiện phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi, nhưng anh D không có ý kiến. Tại phiên tòa, chị X xác định hiện nay chị đảm bảo điều kiện nuôi dạy cháu K. Xét thấy: Yêu cầu nuôi con của chị X là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, để tránh thay đổi về mối trường sống, cũng như sự phát triển bình thường của cháu K nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị X về con chung.

[6] Xét về cấp dưỡng, tài sản chung và các vấn đề khác: Chị Xuyên không yêu cầu, còn anh D thì không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Xét về án phí dân sự: Chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 5; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Mỹ X.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Mỹ X được ly hôn với anh Phan Quốc D.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Bảo K, sinh ngày 22/4/2019 cho chị Võ Mỹ X được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phan Quốc D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Chị Võ Mỹ X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010074 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Võ Mỹ X đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 13/02/2020 về ly hôn, con chung

Số hiệu:27/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về