Bản án 27/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 27/2019/HS-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29/01/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/HS-ST ngày 05/01/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 16/01/2019, đối với bị cáo:

Đặng Lâm T, sinh ngày 17/9/1986, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số nhà 200/18 Y, phường E , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đặng Ngọc T (đã chết) và bà Phan Thị Ngọc H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 01, bản án số: 269/2017/HSST ngày 17/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản. Ngày 19/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù về sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/10/2018 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Trần Nam B, Sinh năm 1996 và anh Nguyễn Khắc V, sinh năm 1999; Cùng nơi cư trú: 265 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị T, Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn 3, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

2. Bà Đặng Thị Mỹ T, Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Lê Thị H, Sinh năm 1959; Nơi cư trú: 15 G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 29/10/2018, T điều khiển xe môtô, biển số 47H9-1793 đi trên các con đường trên địa bàn thành phố B, tìm kiếm tài sản của người dân để sơ hở trong việc quản lý, trông coi thì trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày khi đi ngang qua số nhà: 265 H, phường T, thành phố B, T nhìn thấy cửa chính của căn nhà mở, cánh cổng và hàng rào phía trước nhà có thể leo vào được nên T nảy sinh ý định đột nhập vào trong căn nhà để tìm tài sản trộm cắp. T dựng xe môtô bên hông căn nhà rồi trèo cổng đột nhập vào bên trong. Lúc này T thấy tại tầng trệt của căn nhà không có tài sản gì có giá trị nên tiếp tục đi lên tầng 1 rồi tầng 2 của căn nhà để tìm tài sản. Khi đi đến tầng 2, T nhìn vào trong phòng ngủ đầu tiên thấy anh Nguyễn Trần Nam B và anh Nguyễn Khắc V, đang nằm ngủ trên giường. T nhìn thấy trên chiếc bàn gỗ phía đầu giường có một chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 6 TA-1021, màu đen và dưới nền nhà cuối giường có một chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7, màu đen nên T lén lút trộm cắp hai chiếc điện thoại này bỏ vào trong túi quần. Lúc này, anh B thức dậy nhìn thấy T ở trong phòng nên tri hô: “Trộm, trộm” thì T bỏ chạy ra ngoài, điều khiển xe môtô biển số 47H9-1793 tẩu thoát. Trên đường bỏ chạy T tháo hai chiếc sim điện thoại vừa trộm cắp được của anh B và anh V ra rồi vứt đi. Sau đó, T điều khiển xe môtô đến nhà nghỉ Khánh V, thuê phòng nghỉ thì bị phát hiện xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Halong, biển số 47H9-1793; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021, màu đen và 01  điện thoại  di động hiệu Samsung Galaxy S7, màu đen.

Tại kết luận định giá tài sản số: 264/KLĐG ngày 29/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, 32Gb, màu đen, số Imei: 355504070980687; trị giá: 4.200.000 đồng.

-  01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021, màu đen, 32Gb, số Imei 1: 356020086688858, số Imei 2: 356020086688866; trị giá: 2.300.000 đồng; Tổng giá trị tài sản: 6.500.000 đồng.

Kết quả xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Đặng Lâm T khai nhận: Hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng nêu trên là đúng, vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 29/10/2018 bị cáo đã đột nhập vào nhà số 265 H, phường T, thành phố B, trộm cắp được 02 điện thoại di động, sau khi trộm cắp được 02 điện thoại di động trên đường tẩu thoát bị cáo đã tháo 02 sim vứt bỏ và đến thuê nhà nghỉ Khánh V tại địa chỉ: 23/01 đường G, phường T, thành phố B đến sáng ngày 29/10/2018 thì bị Công an phường T mời về làm việc.

Quá trình điều tra bị hại Nguyễn Trần Nam B trình bày: Vào rạng sáng ngày 29/10/2018 anh đang ngủ cùng em trai là Nguyễn Khắc V tại phòng ngủ đến khoảng 03 giờ 40 cùng ngày anh phát hiện có một bóng người vào phòng nên anh có la lên “trộm, trộm” thì bóng người bỏ chạy sau đó anh cùng em trai kiểm tra thì phát hiện mất 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 của V và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia của anh; hiện tài sản bị mất anh B đã được nhận lại, nay không có ý kiến yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Quá trình điều tra bị hại anh Nguyễn Khắc V trình bày: Vào rạng sáng ngày 29/10/2018 anh bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 hiện tài sản bị mất anh đã được nhận lại, nay không có ý kiến yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T trình bày:

Bà T là chủ sở hữu của xe mô tô biển số 47H9-1793, xe này bà T mua vào tháng 10/2002, quá trình sử dụng đến khoảng năm 2011 bà T đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông tên H, không nhớ tên, địa chỉ cụ thể, khi bán chỉ ghi giấy viết tay.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Mỹ T trình bày: Bà T là chị ruột của bị cáo T việc bị cáo T đi trộm cắp tài sản thì bà T không biết, chiếc xe mô tô biển số 47H9-1793 mà bị cáo T sử dụng là xe của bà T cho bị cáo mượn, xe này bà T mua lại của một người đàn ông không nhớ họ tên vào đầu năm 2018, khi mua hai bên có viết giấy tay giấy này hiện nay bà T đã làm thất lạc.

Quá trình điều tra người làm chứng bà Lê Thị H trình bày: Vào sáng ngày 29/10/2018 tại nhà nghỉ Khánh V  bà có chứng kiến việc Công an phường T, thành phố B  kiển tra phòng của bị cáo T, phát hiện có 02 điện thoại di động là tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-BMT ngày 04/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố các bị cáo Đặng Lâm T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Lâm T mức án từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021 cho anh Nguyễn Trần Nam B; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7,  cho anh Nguyễn Khắc V, là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.

Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện viện kiểm sát, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng các chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước, sớm làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ tài sản đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021 của anh Nguyễn Trần Nam B và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 của anh Nguyễn Khắc V có tổng trị giá 6.500.000 đồng là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng không những đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên vào sáng ngày 29/10/2018 bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, có trị giá 6.500.000 đồng của anh B, anh V với mục đích tiêu xài cá nhân. Mặt khác, bị cáo T ngày 17/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, ngày 19/4/2018 chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nên đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội cánh ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Có như vậy mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021 cho anh Nguyễn Trần Nam Bình; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, cho anh Nguyễn Khắc V là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu HALONG, biển số 47H9-1793 là phương tiện mà bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe đứng tên đăng ký là bà Lê Thị T, bà T đã bán lại cho một người không rõ nhân thân, lai lịch. Vào đầu năm 2018 bà T mua lại từ một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, giấy tờ mua bán hiện nay đã làm thất lạc, bà T cho bị cáo mượn sử dụng làm phương tiện đi lại, việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản bà T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý đối với bà T, đồng thời tách chiếc xe môtô biển số 47H9-1793 ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Lâm T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Lâm T  01(một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/10/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Trần Nam B, anh Nguyễn Khắc V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6 TA-1021 cho anh Nguyễn Trần Nam B; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, cho anh Nguyễn Khắc V là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.

Tách chiếc xe môtô biển số 47H9-1793 ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Lâm T bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án công khai.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:27/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về