Bản án 27/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 27/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐ-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trịnh Thị Bích Th, sinh năm 1990

ĐKHK: Tổ 18, khu 4, phường V, TP V, tỉnh Phú Thọ.

Hiện ở tại: Nhà hàng Tiến Linh, phường N, TP. T, tỉnh Ninh Bình

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990

Trú tại: Bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 4 năm 2019 và bản tự khai, nguyên đơn chị Trịnh Thị Bích Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn Th kết hôn với nhau và có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 20/6/2016 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị sinh sống tại Bản M, xã K cùng gia đình anh Th. Hai vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị mâu thuẫn với bố mẹ anh Th và do kinh tế khó khăn vợ chồng không thống nhất được cách làm ăn, vì vậy giữa chị và anh Th càng ngày càng không hòa hợp được. Tháng 10/2018 chị đã bỏ ra ngoài ở và đi làm thuê tại Thành phố Tam Điệp, anh chị ly thân từ đó đến nay. Chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh Th trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng nên chị xin ly hôn với Th để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị xác định chị và anh Th có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo Trsinh ngày 22/7/2017, hiện cháu đang ở với anh Th và ông bà nội. Sau ly hôn chị xin để cháu cho anh Th tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng vì bản thân chị hiện không có nơi ở, không có nghề nghiệp ổn định nên không đảm bảo được việc nuôi dưỡng cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con chị sẽ tự thỏa thuận với anh Th.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo đơn khởi kiện của chị Trịnh Thị Bích Th. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn Th mặc dù đã biết việc Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý giải quyết vụ án chị Th xin ly hôn với anh, nhưng anh Th vẫn không gửi văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án đến Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Theo biên bản xác minh của Tòa án với Ủy ban nhân dân xã Kỳ Phú thì hiện nay anh Th vẫn có hộ khẩu và đang sinh sống cùng gia đình tại Bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Tại đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh Th, đồng ý cho anh Th tiếp tục nuôi con chung.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: đề nghị HĐXX:

- Áp dụng: Điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quộc hội quy định về án phí. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu khởi kiện của chị Trịnh Thị Bích Th. Xử cho chị Trịnh Thị Bích Th ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh ngày 22/7/2017, hiện đang ở cùng anh Th cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Trđủ 18 tuổi. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Th.

3. Về án phí ly hôn: Chị Trịnh Thị Bích Th phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Trịnh Thị Bích Th và anh Nguyễn Văn Th là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống được với nhau thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn giữa chị Th và gia đình anh Th và mâu thuẫn giữa chính hai vợ chồng trong cách làm ăn. Việc chị Th đi khỏi nhà anh Th từ tháng 10/2018cho đến nay nhưng anh Th cũng không tìm để vợ chồng đoàn tụ chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Th với anh Th là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2].Về con chung: ý kiến của chị Th đồng ý cho anh Th tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Thị Bảo Tr sinh ngày 22/7/2017, hiện đang ở với anh Th và ông bà nội với lý do chị không có nơi ở và thu nhập. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay cháu Tr đang ở với anh Th và ông bà nội có nhà cửa ổn định, bản thân anh Th cũng có thu nhập đảm bảo nuôi dạy cháu, mặt khác lại có sự hỗ trợ từ bố mẹ anh Th để chăm sóc cháu. Do vậy, để đảm bảo sự ổn định, lợi ích mọi mặt của cháu Trnên giao cháu cho anh Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ theo khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Th không có yêu cầu gửi cho Tòa án, mặt khác chị Th cũng chưa có nhà cửa công việc không ổn định vì vậy không đặt ra việc giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

 Vì các lẽ trên.

 QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 147, 227, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Bích Th. Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị Bích Th và anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo Tr sinh ngày 22/7/2017 hiện đang ở với anh Th cho anh Th tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trịnh Thị Bích Th phải nộp là 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2013/0000121 ngày 23/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

4. Quyền kháng cáo: Chị Th và anh Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:27/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về