Bản án 27/2019/DS-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 27/2019/DS-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ GÓP HỤI

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2019/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-DS ngày 08/8/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C và vợ là chị Đoàn Ngọc D; Cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Minh T trình bày: Chị T có làm chủ hụi, vào năm 2018 chị có mở 02 dây hụi. Dây hụi thứ nhất với số tiền một phần hụi là 500.000 đồng, có 40 hụi viên tham gia, một tháng khui hụi 02 lần vào ngày 05 và ngày 20 hàng tháng (ngày âm lịch). Lần mở hụi đầu tiên là ngày 05/02/2018 âm lịch; dây hụi này chị D tham gia 02 phần, chị D góp hụi được 03 lần. Lần thứ 4 chị D kêu hụi giá 190.000 đồng rồi lĩnh hụi với số tiền 12.970.000 đồng, trong dây hụi này chị D còn 01 phần hụi sống. Sau khi lĩnh hụi chị D đã góp hụi chết lại được 05 lần và góp 05 lần dây hụi sống với tổng số tiền 5.575.000 đồng, rồi từ đó cho đến nay chị D không góp hụi chết cho chị T nữa. Hiện nay dây hụi này chưa mãn.

Dây hụi thứ hai với số tiền 01 phần hụi là 2.000.000 đồng, có 28 hụi viên tham gia, 01 tháng mở hụi một lần vào ngày 10 hàng tháng (Ngày âm lịch). Ngày mở hụi đầu tiên là ngày 10/3/2018 (âm lịch); dây hụi này anh C tham gia 01 phần, anh C góp hụi được 02 lần, lần thứ 3 anh kêu hụi giá 700.000 đồng rồi lĩnh hụi với số tiền 37.800.000 đồng. Sau khi lĩnh hụi thì anh C không góp hụi chết lại lần nào từ đó cho đến nay. Dây hụi này hiện nay chưa mãn.

Như vậy trong 02 dây hụi nêu trên anh C và chị D đã lĩnh hụi nhưng không góp lại hụi chết nay chị T yêu cầu anh C, chị D trả lại số tiền hụi đã lĩnh của 02 dây hụi với số tiền là 50.770.000 đồng. Tại phiên tòa chị T yêu cầu khấu trừ số tiền mà anh C và chị D đã góp hụi chết là 2.500.000 đồng và khấu trừ số tiền phần hụi sống là 3.075.000 đồng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D trả cho chị T số tiền nợ hụi còn lại là 45.195.000 đồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D để anh, chị trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T cũng như tham gia các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh C và chị D không nộp bản tự khai cho Tòa án, cố tình trốn tránh, vắng mặt không rõ lý do.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách tham gia tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định; tuy nhiên bị đơn vi phạm những quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh C, chị D là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Do việc mở hụi và tham gia chơi hụi giữa các bên đương sự là tự nguyện thỏa thuận. Phần nợ hụi của 2 dây hụi mà bị đơn anh C, chị D tham gia và lĩnh hụi đều có biên nhận của chị D và anh C đã nhận ký nhận tiền hụi từ chị T do nguyên đơn cung cấp; bị đơn cố tình vắng mặt không lý do trong quá trình tố tụng, không đưa ra lời trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử thì không nhận. Việc bị đơn nợ hụi của nguyên đơn có ông Đoàn U là cha ruột của chị D biết và có lời trình bày tại biên bản làm việc ngày 25/6/2019 (Bút lục số 27) với nội dung vào khoảng đầu tháng 06/2019 khi chị D và anh C đi làm thuê ở địa phương khác về ở nhà ông thì D có gặp chị T để thỏa thuận trả nợ hụi còn nội dung như thế nào thì ông không rõ.

Do đó, dù bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, không hợp tác gây khó khăn cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ. Nhưng căn cứ vào các tài kiệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được cung cấp, thu thập đúng quy định pháp luật đã chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp. Về yêu cầu của nguyên đơn tại đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền nợi hụi là 50.770.000 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm bảy mươi triệu đồng) và không tính lãi. Tuy nhiên tại phiên tòa chị T yêu cầu khấu trừ số tiền hụi mà anh C và chị D đã góp và khấu trừ 01 phần hụi sống trong dây hụi 500.000 đồng với số tiền là 5.575.00 đồng, chỉ yêu cầu tổng số tiền trong 02 dây hụi trên mà anh C chị D còn thiếu là 45.195.000 đồng, chị T chỉ yêu cầu tiền hụi mà bị đơn đã lĩnh hụi, không yêu cầu theo số tiền phải góp hụi chết là phù hợp. Yêu cầu này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy, đề nghị áp dụng Điều 471 BLDS năm 2015 về họ, hụi, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng số tiền nợ hụi 45.195.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Chị T khởi kiện anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D; anh C, chị D có nơi cư trú tại ấp Kinh 14, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị T yêu cầu anh C và chị D trả cho chị số tiền nợ hụi trong 02 dây hụi do anh C và chị D lĩnh hụi mà chưa góp hụi chết lại cho chị tổng số tiền là 50.770.000 đồng. Tại phiên tòa chị T yêu cầu khấu trừ số tiền mà anh Cuộc chị D đã góp và khấu trừ 01 phần hụi sống trong dây hụi 500.000 đồng, số tiền là 5.575.000 đồng nên chị T chỉ yêu cầu anh C và chị D trả cho chị số tiền nợ trong 02 dây hụi còn lại là 45.195.000 đồng. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.

[1.3] Ti phiên tòa chị T thay đổi yêu cầu khởi kiện, xác định số tiền anh C và chị D còn thiếu là 45.195.000 đồng. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận.

[1.4] Bị đơn anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của anh C và chị D không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh C, chị D.

[2] Nội dung tranh chấp: Vào năm 2018 chị T có làm chủ hụi, trong đó chị D, anh C có tham gia 02 dây hụi, 01 dây 500.000 đồng tham gia 02 phần và 01 dây 2.000.000 đồng tham gia 01 phần. Góp hụi được một thời gian thì anh C chị D lĩnh hụi ở 2 dây hụi sau đó không góp phần hụi chết cho chị T. Sau nhiều lần yêu cầu nhưng anh C chị D không trả nên chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh C, chị D phải trả số tiền hụi vốn gốc mà anh C chị D đã nhận của chị T là 45.195.000 đồng.

[3.1] Xét yêu cầu của chị T thấy rằng: Việc thỏa thuận tham gia chơi hụi phía chủ hụi là chị T có lập sổ ghi việc góp hụi và lĩnh hụi của các hụi viên. Khi đến lượt hụi viên lĩnh hụi thì chị T đã gom các phần hụi và giao tiền hụi đầy đủ cho hụi viên, tức là chị T đã thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi, chị T xác định đây là hụi có lãi. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có triệu tập anh C chị D làm việc và liên hệ chính quyền địa phương để làm việc với anh chị nhưng anh chị cố tình trốn tránh và không hợp tác với Tòa án trong việc giải quyết vụ án. Mặc dù anh C và chị D không hợp tác, không trình bày rõ về việc chơi hụi, cố tình trốn tránh nhưng trong quá trình chơi hụi chị T có lập sổ hụi và khi giao tiền hụi cho hụi viên thì có làm biên nhận. Tại biên nhận đề ngày 23/3/2018 và ngày 13/5/2018 (Bút lục 24 và 24A) có thể hiện anh C và chị D đã nhận tổng số tiền hụi trong 02 dây hụi đã lĩnh là 50.770.000 đồng. Hơn nữa tại biên bản làm việc với ông Đoàn U (là cha ruột của chị Đoàn Ngọc D) ông U xác định vào khoảng đầu tháng 06/2019 khi chị D và anh C đi làm thuê ở địa phương khác về ở nhà ông thì D có gặp chị T để thỏa thuận trả nợ hụi còn nội dung như thế nào thì ông không rõ. Điều này thể hiện việc anh C và chị D còn nợ tiền hụi của Chị T là có thật. Trong 02 dây hụi mà anh C và chị D tham gia do chị T làm chủ hụi tính đến nay chưa mãn hụi nên chị T chỉ yêu cầu số tiền lúc lĩnh hụi mà chị đã giao cho phía anh C, chị D chứ không tính tiền hụi chết và yêu cầu chấm dứt các dây hụi với anh C và chị D là phù hợp. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 93 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ và hợp pháp.

Hội đồng xét xử thấy rằng phía anh C và chị D có tham gia chơi hụi, đã lĩnh hụi sau đó không góp các phần hụi chết cho chủ hụi. Sau khi khấu trừ số tiền hụi mà anh C, chị D đã đóng cho chị T là 5.575.000 đồng (Trong đó có 5 lần hụi chết đã góp là 2.500.000 đồng và 09 lần góp của phần hụi sống 500.000 đồng với số tiền là 3.075.000 đồng) thì anh C và chị D còn thiếu lại chị T tổng số tiền trong các dây hụi đã lĩnh là 45.195.000 đồng nhưng anh C và chị D không đóng lại cho chị T là vi phạm nghĩa vụ của hụi viên theo quy định tại khoản 2 Điều 16 (Quy định về nghĩa vụ của hụi viên) của Nghị định 19/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc anh C và chị D phải trả cho chị T tổng số tiền nợ hụi 45.195.000 đồng.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tin án phí dân sự sơ thẩm 5% là: 45.195.000 đồng x 5% = 2.259.750 đồng, bị đơn anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D bị buộc trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91; Điều 93; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điều 468, Điều 471 của Bộ Luật dân sự; khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tun xử:

1. Chp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi của chị Nguyễn Minh T đối với anh Nguyễn Văn C, chị Đoàn Ngọc D.

Buc anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D phải trả cho chị Nguyễn Minh T số tiền nợ hụi là 45.195.000 đồng.

Kể từ khi chị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh C, chị D không trả đủ số tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D phải chịu án phí là 2.259.750 đồng.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Minh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.269.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000094, ngày 25/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Trưng hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Nguyên đơn chị Nguyễn Minh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/9/2019); Bị đơn anh Nguyễn Văn C và chị Đoàn Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/DS-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

Số hiệu:27/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Thuận - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về