Bản án 267/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 267/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 481/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 430A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp TH, xã TP, huyện CN, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Công M, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp TĐ, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Công M chung sống với nhau vào ngày 21/12/2016, có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống nhiều lần cãi vã, cha mẹ hai bên có hòa giải nhưng không thành. Nay chị D xin ly hôn anh M.

- Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 19/8/2017 hiện nay đang do chị D nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ người khác,người khác nợ lại: Không có.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Công M: Không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị D có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Công M vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Công M kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện CN vào ngày 12/8/2019 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị D có yêu cầu ly hôn, anh M không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị D. Do đó, cho thấy trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn tồn tại, nếu tiếp tục duy trì cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, cho chị D được ly hôn anh M.

[3] Về con chung: Xét thấy hiện nay cháu Nguyễn Thị Vân A đang cho chị D nuôi dưỡng. Mặc khác, tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “ 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Do đó, hiện nay cháu Vân A chỉ hơn 27 tháng tuổi nên giao cháu Vân Anh cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng: Chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Công M.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Nguyễn Thị Vân A (nữ), sinh ngày 19/8/2017 cho chị Nguyễn Thị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Anh Nguyễn Công M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0009922 ngày 02 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 267/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:267/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về