Bản án 262/2018/HSST ngày 03/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 262/2018/HSST NGÀY 03/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lY số 214/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Trường A, giới tính: Nam, sinh năm 1990 tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: 120/15 đường 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận T, Thành phố H (Hộ khẩu thường trú: ấp Xóm Chòi, xã Kế A, huyện Kế Sách, tỉnh S); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: làm thuê; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; có vợ Phạm Phương Hồng Thủy, sinh năm 1993 và có 01 con Huỳnh Thị yến Như, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 28/7/2008, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 31/HSST/2008).

- Ngày 11/12/2008, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 55/HSST/2008). Tổng hợp hình phạt với bản án số 31/HSST/2008 ngày 28/7/2008, Huỳnh Trường A phải chấp hành hình phạt chung 03 năm 09 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2012 (xác minh tại chi cục thi hành án huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thì không thụ lY bản án số 55/HSST/2008 ngày 11/12/2008), (đã được xóa án tích).

Bị tạm giam ngày 20/5/2018- có mặt.

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991 Đại chỉ: 126A đường số 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận T, Thành phố H– vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2018, Huỳnh Trường A đi ngAg qua nhà số 1306, Khoảng 02 giờ 00 ngày 20/5/2018, Huỳnh Trường A đi bộ xung quAnh khu vực dãy nhà trọ nơi A đAg ở tại 120/15 đường 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến cửa sau nhà số 126A đường 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức của chị Nguyễn Thị Y làm chủ, thấy cửa mở không khóa. A nảy sinh Y định đột nhập vào nhà của chị Y láy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài, A đi vào lục tìm trong hộc tủ đựng tiền bán hàng tạp hóa của chị Y phát hiện một số thẻ cào điện thoại đi động của hãng Mobiphone, Vinaphone, Vietel, Vinamobile, Gmobile có nhiều mệnh giá khác nhau, A lấy bỏ vào túi quần bên phải của mình rồi quay ra đi về phòng trọ vào nhà vệ sinh lấy 01 túi ni lông màu đen bỏ số thẻ cào điện thoại di động vào túi ni lông đem cất giấu trong ống đựng trà đAg để trên kệ bếp rồi nằm ngủ tại phòng trọ. Khoảng 09 giờ 00 cùng ngày, chị Y thức dậy phát hiện mất số thẻ cào để trong tủ bán quán tạp hóa nên đến Công A phường Linh Xuân trình báo.

Qua truy xét kiểm tra camera tại địa chỉ 126A đường 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, ghi nhận: Huỳnh Trường A đAg dùng tay lấy thẻ cào điện thoại di động trong ngăn tủ bỏ vào túi quần, Cơ quA Cảnh sát Điều tra đã đưa Huỳnh Trường A về trụ sở làm việc. Tại Cơ quA Cảnh sát Điều tra Công A quận Thủ Đức, Huỳnh Trường A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, Cơ quA Cảnh sát Điều tra đã thu giữ tại nơi ở của A tổng cộng 313 thẻ cào điện thoại các loại mà A đã trộm cắp của chị Y.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 1009/UBND-TCKH ngày 28/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự, kết luận: 102 thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone, trị giá 6.160.000 đồng; 09 thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone, trị giá 1.311.000 đồng; 153 thẻ cào điện thoại mạng Viettel, trị giá 8.533.000 đồng; 48 thẻ cào điện thoại mạng Vietnammobile, trị giá 1.890.000 đồng; 01 thẻ cào điện thoại mạng Gmobile, trị giá 47.000 đồng. Tổng giá trị, 17.941.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 233/CT-VKSTĐ ngày 21/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Trường A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi trình bày bản luận tội vị đại diệnViện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức vẫn giữ nguyên quA điểm truy tố bị cáo Huỳnh Trường A về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Huỳnh Trường A 12-18 tháng tù.

Về dân sự: bà Nguyễn Thị Y đã nhận toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì.

Bị cáo Huỳnh Trường A đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAnh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra công A quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra Viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có Y kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo Huỳnh Trường A phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:

Bị cáo Huỳnh Trường A đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 102 thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone, 09 thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone, 153 thẻ cào điện điện thoại mạng Viettel, 48 thẻ cào điện thoại mạng Vietnammobile, 01 thẻ cào điện thoại mạng Gmobile, tổng trị giá 17.941.000 đồng của chị Nguyễn Thị Y tại nhà số 126A đường 8, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/5/2018. Hành vi này của bị cáo Huỳnh Trường A đã phạm vào tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị A cho xã hội; bản thân bị cáo Huỳnh Trường A có nhân thân xấu, đã bị kết án nhiều lần về hành vi trộm cắp (đã xóa án tích) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, sau khi ra tù lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải có mức án phù hợp với tính mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên xét tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì.

Về vật chứng vụ án: đã trả lại cho bị hại.

Xét cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trường A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2018 Buộc bị cáo Huỳnh Trường A phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


44
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 262/2018/HSST ngày 03/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:262/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về