Bản án 26/2020/HS-ST ngày 18/02/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 26/2020/HS-ST NGÀY 18/02/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 18 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 791/2019/TLST - HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

386/2020/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Uông Ngọc Q (tên gọi khác: Không); sinh ngày 27/10/1999, tại tỉnh T; nơi ĐKTT: Thôn 6, xã Q, huyện Q, tỉnh T; chỗ ở: 158/70/21 tổ 10, khu phố 11, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Uông Ngọc T (đã chết) và bà Hoàng Thị V; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 20/9/2018; có mặt.

2. Lê Công Du (tên gọi khác: Không); sinh ngày 10/11/1990, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKTT: Thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Công G và bà Trần Thị M; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 21/5/2019; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Công D: Luật sư Nguyễn Sơn L, Công ty Luật hợp danh Nam Trí Việt, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Người bào chữa cho bị cáo Uông Ngọc Q: Luật sư Cao Thị Kiều T, Văn phòng Luật sư Đỗ Ngọc Oánh, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Bị hại: Anh Hứa Văn Q (đã chết) Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hứa Văn T, sinh năm 1970; bà Sầm Thị M; sinh năm 1969 (là cha mẹ đẻ của anh Hứa Văn Q ) Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện B, tỉnh Đ Bà Sầm Thị M ủy quyền cho ông Hứa Văn T (văn bản uỷ quyền ngày 04/10/2018); ông Hứa Văn T có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Duy T; sinh năm 1998 Địa chỉ: Thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh T.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Giang; sinh năm 1992 Địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ông Trần Phương Nam; sinh năm 1991 Địa chỉ: Số 17/5T ấp T, xã Thới T, huyện H, Thành phố A 4. Ông Lê Ngọc Thắng; sinh năm 1999 Địa chỉ: Số 156/3N ấp Đông 1, xã Thới T, huyện H, Thành phố H.

5. Ông Lê Duy Bình; sinh năm 1989 Địa chỉ: Số 158/70/21 khu phố 11, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Minh.

6. Ông Tô Vũ Chưởng; sinh năm 2001 Địa chỉ: Số 156/3N ấp Đông 1, xã Thới T, huyện H, Thành phố Hồ Chí

7. Ông Vũ Duy B; sinh năm 1994 Địa chỉ: Số 158/70/21 khu phố 11, phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Lê Phú T; sinh năm 1997 Địa chỉ: Thôn T xã Hóa Q, huyện N, tỉnh T 9. Ông Ngô Văn D; sinh năm 2001 Địa chỉ: Số 156/3N, ấp Đông 1, xã Thới Tam T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/9/2018, Uông Ngọc Q rủ nhóm bạn gồm Lê Công D, Tô Vũ C, Vũ Duy T, Lê Ngọc T, Vũ Duy B, Lê Phú T, và Ngô Văn D đến quán “Giang béo” tại nhà không số, đường L, Tổ 8, khu phố A, phường T, Quận D để ăn uống chia tay về quê, được khoảng 5 phút thì Ba về trước.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Hứa Văn Q cùng Trần Phương N, Nguyễn Xuân H và H, Q, L (chưa xác định lai lịch) đến và ngồi gần bàn của nhóm Uông Ngọc Q. Khi vừa đến, anh Hứa Văn Q nhìn sang bàn Ngọc Q, Vũ Duy T nói: “Có quen không mà nhìn?”, Văn Q không nói gì, ngồi được một lúc thì H, Q và L (bạn của anh Văn Q) về trước.

Một lúc sau, Vũ Duy T về phòng trọ giải quyết việc riêng rồi tiếp tục quay lại quán. Trên đường đi, Tư gặp Lê Duy B (là anh rể của Tư), Tư rủ B đến quán nhậu. Khi T và B vừa đến, Trần Phương N nghi ngờ nhóm của Ngọc Q rủ người đến đánh nhóm của N, nên N đã đứng dậy đi vào trong bếp của quán lấy 02 con dao với mục đích để đánh nhau với nhóm của Uông Ngọc Q. Bà Nguyễn Thị Kim G là chủ quán ngăn cản và lấy con dao trên tay của Nam đem cất giấu, Nam lấy thêm một con dao bào cầm trên tay. Ngọc Q thấy N cầm dao đi ra, đã cầm 02 vỏ chai bia Sài Gòn đập vỡ để chống trả lại N, còn C, D, T, B, T và Thắng bỏ chạy ra đường Lâm Thị H phía trước quán.

Lúc này, anh Văn Q chạy đến dùng hai tay ôm từ phía sau lưng của Ngọc Q và dùng tay đánh Ngọc Q. Lê Công D thấy N cầm dao chạy ra, nên cầm 01 chai bia Sài Gòn ném về phía N, rồi cầm 01 ống điếu cày đánh trúng vào vùng đầu anh Văn Q, rồi vứt điếu cày xuống nền nhà và bỏ chạy ra trước quán. Ngọc Q vùng người quay lại thì anh Văn Q tiếp tục dùng hai tay đấm vào ngực và bụng của Ngọc Q thì Ngọc Q dùng tay đánh trả anh Văn Q , tay phải Ngọc Q vẫn đang cầm cổ chai bia đã bị đập vỡ đâm 01 cái trúng vào vùng cổ của anh Văn Q làm anh Văn Q chảy máu. Sau khi đâm anh Văn Q , Ngọc Qném 02 đầu vỏ chai bia cầm trên tay về phía N rồi bỏ chạy ra bên ngoài, Nam cầm dao đuổi theo Ngọc Q ra đến cửa quán. Thấy vậy, Cvà D cầm gạch, T cầm đá, Thắng cầm vỏ chai bia ném về phía N, N bỏ chạy vào trong quán. Sau đó, Ngọc Q, C, T, D, T, Toàn và Dũng bỏ đi về. Còn Văn Q được bạn là Nam và Hải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 175 và đến ngày 23/9/2018 thì tử vong.

Ngày 20/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Uông Ngọc Q. Đến ngày 21/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Công D.

Tại bản cáo trạng số: 407/CT-VKS-P2 ngày 30/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Uông Ngọc Q và Lê Công D về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Uông Ngọc Q từ 18 năm tù đến 20 năm tù về tội” giết người”. Xử phạt Lê Công D từ 16 năm tù đến 20 năm tù về tội “giết người”.

Buộc các bị cáo bồi thường dân sự và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Uông Ngọc Q trình bày: Luật sư gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình bị hại. Luật sư thống nhất về mặt tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, nhưng không đồng ý điều khoản với tình tiết “giết người có tính chất côn đồ”. Vì nguyên nhân vụ án là do Trần Phương N tưởng nhóm của bị hại kéo thêm người đến đánh nên lấy 02 con dao để chạy ra, bị cáo Q thấy vậy nên mới đập 02 chai bia để phòng thân. Ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi vì đã đánh bị cáo Q. Khi Trần Phương N vẫn cầm 02 con dao, mà bị hại lại ôm bị cáo Quốc không chạy được, nên bị cáo Quốc mới phản kháng đánh lại bị hại nên hành vi của bị cáo không mang tính chất côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố vì bị cáo có hoàn cảnh gia đình, là người lao động chính, bị cáo mới học đến lớp 8 nên nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, tuổi đời bị cáo còn trẻ, chưa có tiền án tiền sự và đã bồi thường thiệt hại.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Công D trình bày: Luật sư thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về mặt tội danh là “Giết người”, nhưng không đồng ý với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ”. Luật sư đề nghị làm rõ lí do vì sao bị cáo D đánh bị hại 01 cái mà lại gây ra hai vết thương ở hai vùng khác nhau? vết thương còn lại do ai đánh? bị cáo D hoàn toàn không có ý định đánh chết người, bị cáo không hề có mâu thuẫn từ trước với nhóm bị hại hay cá nhân bị hại. Mâu thuẫn do nhóm bị hại gây ra, mặc dù Trần Phương N đã bị chủ quán thu hồi con dao nhọn nhưng vẫn cầm con dao còn lại nên để xảy ra vụ việc. Mặt khác, bị cáo D và bị cáo Q không hội ý từ trước về vụ việc gây ra cái chết cho bị hại. Nguyên nhân chết của bị hại là sốc mất nhiều máu, vậy nguyên nhân thứ yếu là do bị cáo D gây ra. Bằng chứng nữa là sau khi bị đánh, bị hại vẫn còn ý thức đánh bị cáo Quốc. Xét về thái độ mức độ nguy hiểm, bị cáo D chỉ đánh 01 cái duy nhất, đánh xong vứt điếu cày, chạy ngay và không có ý làm chết người. Xin Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vận động gia đình bồi thường. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị. sung.

Các bị cáo nhất trí nội dung bào chữa của các Luật sư, không bào chữa bổ Đại diện hợp pháp của bị hại không tham gia tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư cho rằng bị hại tấn công bị cáo Quốc nên Quốc mới đánh lại, hành vi của bị cáo Quốc không mang tính chất côn đồ là không chính xác, vì tất cả những lời khai của bị cáo và lời khai những người chứng kiến có trong hồ sơ, cáo trạng Viện kiểm sát truy tố dựa theo kết quả thu thập của cơ quan điều tra đã xác định khi thấy Nam đứng ra là bị cáo đã thủ sẵn hai vỏ chai bia đập vào cạnh bàn, đứng lên để chờ Nam tới để đánh nhau. Trong các lời khai thì bị hại ôm bị cáo là có nhưng không xác định được bị hại có đánh bị cáo hay không. Do đó hành vi của bị cáo thể hiện rất rõ muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực. Bị hại và bị cáo không mâu thuẫn với nhau, nhưng thấy cầm dao ra và vẫn đứng đó cầm vỏ chai bia chờ chứ không tẩu thoát thì không có căn cứ nào nói đây không phải là hành vi côn đồ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123 đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với bị cáo D, Viện kiểm sát đề nghị mức án nhẹ hơn là vì: Thứ nhất, bị cáo chỉ đập một cái rồi bỏ chạy ra ngoài tại sao mà tất cả mọi người trong vụ án không mâu thuẫn với nhau mà bị cáo Quốc thấy Trần Phương N lấy dao chạy ra đã đập chai bia thủ sẵn, những người ngồi chung bàn khác đều bỏ chạy ra ngoài riêng bị cáo D là không chạy mà thấy bị hại thì đập một phát mà bị cáo Du đập bị hại là đập sau lưng, như vậy là mang tính côn đồ; thứ hai, tại sao lại có hai vết thương, thì trong biên bản điều tra, bác sĩ pháp y đã giải thích tại bút lục số 68 đánh giá kết quả pháp y với tư thế, chiều hướng, khoảng cách, hành động của bị cáo Lê Công D cầm ống điếu cày đánh trúng một cái như đã thực nghiệm thì có thể gây ra vết thương cho bị hại, tại vùng đỉnh chẩm phải như thể hiện trong bản điều tra pháp y. Nguyên nhân chết rõ nhất là vết đỉnh đầu phải. Nguyên nhân chết là kết hợp giữa 02 vết thương gây ra cái chết cho nạn nhân. Không có vết nào chính, không có vết nào phụ. Chúng tôi đề nghị mức án của bị cáo Du nhẹ vì bị cáo D rất thành khẩu, ngay từ đầu đã kết hợp với điều tra, khi khai nhận và ăn năn hối cải. Về vết thương của bị hại, như thực nghiệm thì bị cáo Du đã đánh một cái vào vùng đỉnh chẩm phải của nạn nhân. Nhưng cũng như các bị cáo đã khai là chỉ có hai bị cáo tác động đánh nạn nhân, chứ không còn ai khác và cũng không có ai đứng gần bị hại, khi đánh nhau thì diễn biến rất là nhanh. Đồng thời, trong quá trình điều tra cũng đã xác định chỉ có hai bị cáo tấn công nạn nhân, cũng không ai chứng minh được bị cáo Du chỉ đánh một cái. Mặt khác, vùng đỉnh và vùng chẩm bị tổn thương của bị hại rất sát nhau. Hiện tại bên bác sĩ cũng không thể kết luận được tại sao mà một lần đánh mà lại gây ra được hai vết thương. Nhưng cơ quan điều tra cũng đã xác định được chỉ có hai bị cáo gây ra cái chết cho bị hại. Vì những lí do trên, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.

Các Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Uông Ngọc Quốc, Lê Công Du: Xin lỗi đại diện bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Uông Ngọc Quốc, Lê Công D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo Uông Ngọc Q, Lê Công D tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp vật chứng đã được thu giữ, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở để kết luận: Do mâu thuẫn với nhóm người ngồi nhậu bàn bên cạnh, trong lúc xô xát Lê Công D đã cầm 01 ống điếu cày đánh vào đầu anh Hứa Văn Q , Uông Ngọc Q dùng vỏ chai bia Sài gòn đã đập vỡ phần đáy đâm 01 nhát trúng vào vùng cổ của Hứa Văn Q làm anh Hứa Văn Q tử vong.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 851-18/KLGĐ-PY, ngày 06/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Nguyên nhân chết: Hứa Văn Q chết do sốc mất máu không hồi phục do vết thương cổ trái và chấn thương sọ não.

- Mẫu máu của Hứa Văn Q thuộc nhóm máu A.

Văn bản số: 350/CV-PC09-Đ4 ngày 23/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh giải thích pháp y, như sau: - Ống điếu cày bằng tre dài 54,5cm đường kính khoảng 04cm có thể gây ra được tổn thương tại vùng đỉnh-chẩm phải của nạn nhân Hứa Văn Q .

- Tổn thương chấn thương sọ não nêu trên do tổng hợp các tổn thương ở vùng đầu (bầm tụ máu đỉnh phải, kích thước 4cm x 3cm và bầm tụ máu đỉnh – chẩm phải, kích thước 12cm x 5cm) gây nên.

- Không đủ cơ sở để trả lời câu hỏi: “03 (ba) đầu chai bia Sài Gòn đỏ đã bị vỡ đâm có thể gây ra được vết thương tại vùng cổ trái nạn nhân Hứa Văn Q hay không?” Bản kết luận giám định pháp y tử thi bổ sung số: 1143-19/KLGĐBS-PY, ngày 26/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định:

- Không có cơ sở để trả lời hai câu hỏi:

+ Hai thương tích trên vùng đầu nạn nhân Hứa Văn Q có cùng một vật tác động gây ra hay không? + Trong trường hợp không cùng một vật tác động gây ra thì khả năng do vật hoặc hung khí có kích thước, hình dạng như thế nào gây ra? Vì vậy, các vật tày có đặc điểm giống nhau hay có một phần giống nhau đều có thể gây ra được các tổn thương nêu trên (chỉ nhận định được nhóm gây ra các tổn thương ở vùng đầu đều là vật tày, không có cơ sở để khẳng định một vật cụ thể nào gây ra).

- Nguyên nhân chết của Hứa Văn Q là sự kết hợp của cả hai vết thương cổ trái và chấn thương sọ não gây ra.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi bổ sung số 1169-19/KLGĐBS-PY, ngày 29/8/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định:

- Ống điếu cày bằng tre dài 54,5cm, đường kính 04cm có thể gây ra được vết thương tại mép phải, cằm phải, hõm ức và vùng ngực trái quanh vú của nạn nhân Hứa Văn Q . Các vết thương này không gây ra cái chết của nạn nhân Hứa Văn Q .

- Dùng tay đánh có thể gây ra được tổn thương ở vùng đỉnh phải, kích thước 4cm x 3cm.

[3] Với hành vi đó Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Uông Ngọc Q và Lê Công Du đã phạm tội: “Giết người”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự;

[4] Hành vi của các bị cáo Uông Ngọc Q và Lê Công Du là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo đã tước đoạt mạng sống của người khác, phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Giết người” với tình tiết có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận quan điểm bào chữa của Luật sư cho rằng hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại có lỗi, đã bồi thường một phần cho gia đình bị hại và gia đình bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, do đó áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Vũ Duy T chở Uông Ngọc Q ra đón xe về quê, Tư không biết Quốc đã có hành vi giết người nên không xử lý Tư về hình sự là đúng pháp luật.

Đối với Trần Phương N có hành vi lấy dao để đánh nhau nhưng không gây thương tích cho ai và sự việc xảy ra trong quán nên không có cơ sở xử lý hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Đối với Tô Vũ C, Vũ Duy T, Lê Ngọc T có hành vi cầm gạch, đá, vỏ chai bia ném Trần Phương N. Tuy nhiên Nam không yêu cầu xử lý hình sự đối với các đối tượng trên về hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng. Các đối tượng nêu trên đã bị cơ quan chức năng ra quyết định xử lý hành chính là phù hợp.

[6] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 366.200.000 đồng, gia đình các bị cáo đã bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc điều trị trước khi và mai táng…số tiền 124.500.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường tiếp số tiền còn lại là 241.700.000 đồng nên ghi nhận.

Chị Nguyễn Thị Kim G là chủ quán “Giang béo” có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản tại quán mà quá trình các bị cáo đánh nhau gây ra nên không xem xét giải quyết.

[7] Xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 36B6-536.84 do bị cáo Lê Công D đứng tên, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải chịu.

Xét thấy số vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Uông Ngọc Q: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018. 2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Lê Công D: 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2019.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Uông Ngọc Q và Lê Công D liên đới bồi thường cho ông Hứa Văn T, bà Sầm Thị M số tiền 241.700.000 đồng (hai trăm bốn mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người phải thi hành án chưa thi hành các khoản tiền bồi thường nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bào dài 23,5cm (thực tế dài 23cm); lưỡi dao bằng kim loại dài 12,5cm; có cán bằng gỗ dài 11cm (thực tế cán dài 10,5 cm);

01 con dao bằng kim loại dài 36,5cm (thực tế dài 36 cm), có lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 11,5cm (thực tế dài 11cm), bản rộng 7,3cm; 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23,5cm, cán dao bằng kim loại dài 10,5cm, bản rộng 9cm; 01 con dao bằng kim loại dài 33,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, bản rộng 6cm; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 chiếc dép nhựa màu trắng bên phải; 01 ống điếu cày bằng tre dài 55cm; 02 cục gạch ống đã bể dài 18cm, rộng 8cm, cao 8cm; 01 cục gạch bể dài 13,5cm, rộng 8cm, cao 4,5cm; 01 cục bê tông dài 12cm, rộng 6,5cm, cao 6,5cm; 03 đầu chai bia Sài Gòn đỏ đã bị vỡ cùng một số mảnh thủy tinh của chai bia Sài Gòn; 01 áo sơ mi dài tay màu đen; 01 quần tây dài màu đen.

- Trả lại cho bị cáo Lê Công D 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 36B6-536.84; số khung RLCUG06105Y678692; số máy G3D4E-706429 của bị cáo Lê Công Du nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải chịu.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số: 28/20 ngày 15/10/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Các bị cáo liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.085.000 đồng (mười hai triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Các bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

234
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2020/HS-ST ngày 18/02/2020 về tội giết người

Số hiệu:26/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về