Bản án 26/2019/HSST ngày 20/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 26/2019/HSST NGÀY 20/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Cẩm X, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2019, ngày 15 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/HSST-QĐ ngày 03/6/2019 đối với bị cáo:

Đặng Thị Tr; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01 tháng 4 năm 1986; Quê quán: Xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Giáo viên; Đơn vị công tác: Trường mầm non Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Chức vụ, đảng phái: Là Đảng viên sinh hoạt tại Chi bộ trường mầm non xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 26/3/2019, theo Quyết định số 97/QĐ/UBKTHU, của Ủy ban kiểm tra Huyện Ủy Cẩm X, tỉnh Hà T; Con ông: Đặng Xuân L; Sinh năm 1960. (Đã ly hôn với bà Trương Thị L, hiện nay sinh sống tại tỉnh Kon Tum); Con bà: Trương Thị L; Sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Hiện trú quán tại Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Anh chị em ruột có hai người, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Đinh Quang T; Sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Công nhân; Hiện trú quán tại Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm Xu, tỉnh Hà T; Con có 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2009, đứa nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/3/2019 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, trú tại: Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: lầm ruộng, có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Ngọc Th, sinh năm 1984 trú tại: Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: làm ruộng, Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Th; sinh năm 1986, trú tại: Thôn Nam Ph, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: làm ruộng, vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Ông Lê Ngọc C, sinh năm 1930, trú tại: Thôn Phúc S, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

2. Chị Trương Thị L, sinh năm 1962, trú tại: Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Đặng Thị Tr bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà T truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 10 giờ ngày 16/01/2019, Đặng Thị Tr đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (người cùng thôn), ở Thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T chơi, nhưng chị H và gia đình đi vắng. Khi đến, Tr thấy cửa nhà phía dưới mở nên đã đi vào và thấy chỉ có ông Lê Ngọc C (Bố chồng chị H) đang nằm trên dường. Sau khi vào nhà, Tr chào ông và hỏi thăm thì biết được ông bị đau chân còn vợ chồng chị H đang đi làm đồng, nên Tr chào ông Cán rồi ra về. Khi đi ra đến khu vực giếng nước, nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đi vòng lên nhà chính mở cửa phòng khách (Cửa nhà không khóa) rồi đi vào phòng ngủ của vợ chồng chị H phát hiện cánh cửa tủ phía dưới bên phải bị khóa. Nghĩ có tài sản bên trong tủ, nên Đặng Thị Tr đi tìm chìa khóa để mở cánh cửa tủ và phát hiện chiếc chìa khóa để dưới gầm tủ. Tr lấy chiếc chìa khóa mở cánh cửa tủ ra, phát hiện bên trong tủ có một chiếc túi bằng vải, Trang mở chiếc túi ra thấy bên trong có một chiếc hộp nhựa màu hồng thường dùng để cất dấu vàng nên lấy bỏ vào túi quần, rồi tiếp tục mở ngăn tiếp theo thấy một xấp tiền loại mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Tr lấy xấp tiền bỏ vào túi quần, cất chiếc túi lại vị trí củ và khép cửa tủ lại đi về nhà. Sau khi về đến nhà, Tr mở chiếc hộp nhựa màu hồng ra thấy trong hộp có 01 (Một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng dạng móc xích hình trái tim liên kết với nhau và 03 (Ba) chiếc nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng cùng với xấp tiền Trang đếm được 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đặng Thị Tr đưa số vàng trộm cắp nói trên đến cửa hàng vàng bạc Dũng Th, ở xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T bán cho chị Nguyễn Thị Th chủ cửa hàng được 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Khi mua vàng chị Th không biết tài sản do trộm cắp mà có. Sau khi mua số vàng nói trên của Đặng Thị Tr, chị Th đã sản xuất lại các mẫu mới để bán lại cho khách hàng nên không thu hồi được tài sản. Đến ngày 17/01/2019, Đặng Thị Tr biết được Công an về điều tra vụ mất trộm tài sản tại nhà chị Nguyễn Thị H, nên đã đi vào vào cửa hàng vàng bạc Dũng Th chuộc lại số vàng đã bán để về trả lại. Nhưng do số vàng đó chị Th đã sản xuất ra các mẫu mới, nên Tr đã mua của cửa hàng vàng bạc Dũng Th một dây chuyền vàng có trọng lượng 04 (Bốn) chỉ cùng với ba chiếc nhẫn tròn, mỗi nhẫn có trọng lượng 01 (Một) chỉ rồi gọi điện thoại nói với bà Trương Thị L (mẹ của Trang) về việc Trang đã trộm cắp tài sản của chị H. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đặng Thị Trang cùng với bà Trương Thị L đưa vàng cùng với 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) đến xin lỗi và trả lại cho chị Nguyễn Thị H. Đến ngày 24/01/2019, Đặng Thị Tr đến Công an huyện Cẩm X đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tài sản của chị Nguyễn Thị H bị Đặng Thị Tr trộm cắp bao gồm: 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành và 01 (Một) dây chuyền vàng 24K (Vàng 9999) có tổng trọng lượng 04 chỉ; 03 (Ba) nhẫn vàng 24K (vàng 9999), có tổng trọng lượng là 03 chỉ. Theo kết quả đánh giá chất lượng, trọng lượng vàng, giá vàng tại thời điểm Đặng Thị Tr trộm cắp, của Doanh nghiệp vàng bạc “Hằng Châu” ở Thị trấn Cẩm X và theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cẩm X số 15/BB-KL ngày 12/02/2019, xác định: 01 (Một) dây chuyền vàng cùng với 03 (Ba) chiếc nhẫn vàng có tổng trọng lượng là 07 chỉ là vàng 24K (vàng 9999), trị giá 25.480.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Đặng Thị Tr chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H là: 42.480.000 đồng (Bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Đặng Thị Tr đã trả lại cho người bị hại Nguyễn Thị H một dây chuyền vàng trọng lượng 04 (Bốn) chỉ cùng với 03 (Ba) chiếc nhẫn vàng tròn, trọng lượng 03 (Ba) chỉ và số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Nay người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSCX ngày 14/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà T đã truy tố bị cáo Đặng Thị Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1,2 điều 51; điều 65 BLHS xử phạt Đặng Thị Tr từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diệnchứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Đặng Thị Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 10 giờ ngày 16/01/2019, tại nhà của gia đình chị Nguyễn Thị H, ở thôn Phúc S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, Đặng Thị Tr đã lợi dụng chủ nhà đi vắng, lén lút vào mở tủ đặt ở phòng ngủ lấy trộm tài sản của gia đình chị H, gồm: 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có trong lượng 04 (Bốn) chỉ vàng 24K (Vàng 9999); 03 (Ba) chiếc nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng, có tổng trọng lượng 03 (Ba) chỉ vàng 24K (Vàng 9999), với tổng trị giá 25.480.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) và 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành. Tổng trị giá tài sản Đặng Thị Tr đã chiếm đoạt chiếm đoạt của gia đình chị Nguyễn Thị H là 42.480.000 đồng (Bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

[3] Xét hành vi phạm tội của Đặng Thị Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy Cáo trạng số 28/CT-VKSCX, ngày 14/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, truy tố Đặng Thị Tr với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của Đặng thị Tr đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tệ nạn trộm cắp tài sản gây mất an ninh trật tự, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo vì hám lợi nên vào ngày 16/1/2019, lợi dụng chủ nhà đi vắng nên Đặng Thị Tr đã lén lút vào nhà chị H chiếm đoạt tài sản, với trị gia tài sản là 42.480.000 đồng. Tuy nhiên, khi lượng hình cần căn cứ nhân thân, hoàn cảnh gia đình, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét về nhân thân, bị cáo Đặng Thị Tr có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Tại hồ sơ và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại đã nhận lại tài sản và đã nhận tiền bồi thường và đầu thú, do đó bị cáo Trang được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trang, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Trang ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng điều 65 BLHS cho các bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo ăn năn hối cải, làm ăn lương thiện trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Đặng Thị Tr đã trả lại cho người bị hại Nguyễn Thị H một dây chuyền vàng trọng lượng 04 (Bốn) chỉ cùng với 03 (Ba) chiếc nhẫn vàng tròn, trọng lượng 03 (Ba) chỉ và số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Nay người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo Đặng Thị Tr phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Tr phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Phạt bị cáo Đặng Thị Tr 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/6/2019.

Giao bị cáo Tr cho chính quyền địa phương xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Áp dụng khoản 1 điều 61 Luật thi Hành án hình sự: Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 3; khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đặng Thị Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Đặng Thị Tr, người bị hại (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HSST ngày 20/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:26/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về