Bản án 26/2019/HS-PT ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 26/2019/HS-PT NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 440/2018/HS-PT, ngày 24-12-2018 đối với bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2018/HSST ngày 16/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Thị H - Sinh ngày 05/5/1986, tại tỉnh Hà Tĩnh;

Nơi đăng ký HKTT: Đường M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bán hàng; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Trần Viết H và bà: Lê Thị T; Bị cáo có chồng là ông Đinh Khắc H và có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: mKhông;

Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại kháng cáo: Bà Đinh Thị Kim Y - Sinh năm: 1988 (có mặt). Địa chỉ: Đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị H và chị Đinh Thị Kim Y có mối quan hệ là chị dâu em chồng cùng sống chung tại phường T, thành phố B. Quá trình sinh sống giữa H và bà Y không có tài sản chung nhưng bà Y có tài sản riêng để trong nhà và thường xuyên đi làm tại tỉnh Đắk Nông. Bà Y có để số tài sản gồm: 02 cây vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng PNJ 9999; 01 bộ ximen 10 vòng (vàng Sài Gòn), 7,2 chỉ; 01 vòng tay (vàng Sài Gòn và vàng trắng “bạch kim”), 3 chỉ; 01 dây chuyển vàng Sài Gòn 03 chỉ; 01 dây chuyền vàng (vàng Sài Gòn và vàng trắng “bạch kim”), 1,3 cây; 03 nhẫn vàng 9999, loại 0,5 chỉ/01 nhẫn; 01 nhẫn mặt đá bằng vàng Sài Gòn, loại 2 chỉ; 02 nhẫn cưới bằng vàng Sài Gòn trọng lượng 1,7 chỉ; Tổng cộng là 23,5 chỉ vàng 9999 và 2,99 cây vàng Sài Gòn. Toàn bộ số vàng trên chị Y bọc vào giấy, bên ngoài quấn băng keo để trong túi nilon màu đen và cất trong chiếc vali riêng của chị Y.

Khoảng 12 giờ trưa ngày 01/3/2018, H dọn dẹp tủ đồ trong gia đình thì phát hiện chiếc vali của chị Y bên ngoài khóa cẩn thận. Lúc này H nghĩ bên trong vali phải có tài sản nên mở vali ra xem phát hiện dưới đống quần áo và hồ sơ cá nhân, có 01 bọc giấy được quấn băng keo cẩn thận để trong túi ni lon màu đen. H mở túi nilon ra, dùng 01 kéo màu xanh cắt lớp giấy bọc ra thì thấy số vàng mà chị Y cất giữ trong va li. Thời điểm này H đang thiếu nợ do ghi số đề của nhiều người (không rõ lai lịch) nên đã trộm cắp số vàng của chị Y bán để trả nợ. Trong các ngày 04/3/2018, 05/3/2018, 08/3/2018 H đến các tiệm vàng K, C, B bán một phần số vàng trộm cắp được tổng số tiền là 72.050.000 đồng. Số tiền này H dùng để trả nợ ghi số đề cho nhiều người (không rõ lai lịch), tiêu xài cá nhân và mua 01 bộ nữ trang cho cá nhân. H còn giữ lại số vàng trộm cắp là 01 cây vàng SJC 9999 và 01 chỉ vàng PNJ 9999. Đến ngày 24/3/2018, chị Y từ Đắk Nông về phát hiện bị mất số vàng đã cất giữ trong vali. Chị Y hỏi H có lấy số vàng cất giữ trong vali không thì H thừa nhận đã trộm cắp số vàng của chị Y. Sau đó, H đã trả lại cho chị Y 01 cây vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng PNJ 9999 và khắc phục 01 bộ nữ trang (01 đôi bông tai, 01 nhẫn có mặt hình con cóc, 01 lắc tay có nhiều hạt xâu chuổi lại với nhau và 01 dây chuyền). Chị Y yêu cầu H làm cam kết trả lại số vàng đã trộm cắp nhưng H không trả nên ngày 30/3/2018 chị Y đã viết đơn tố cáo H trộm cắp số vàng trên và tự nguyện giao nộp 01 cây vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng PNJ 9999 và m01 bộ nữ trang, là các tang vật chứng của vụ án, cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/4/2018 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra quyết định trưng cầu giám định số vàng gồm: 01 cây vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng PNJ 9999 và 01 bộ nữ trang. Ngày 24/4/2018, Trung tâm vàng bạc đá quý P, chi nhánh thành phố B, kết luận: 01 cây vàng SJC 9999, 01 chỉ vàng PNJ 9999 và 01 bộ nữ trang đều là vàng thật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 99/KLĐG ngày 24/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận:

* Tài sản thu hồi được:

- 01 miếng vàng có chữ SJC 9999, loại 1 lượng. Hàm lượng vàng 99,99%, trọng lượng 10 chỉ; trị giá: 10 chỉ x 3.669.000 đồng/chỉ = 36.690.000 đồng;

- 01 miếng vàng có chữ PNJ loại 1 chỉ. Hàm lượng vàng 99,99%, trọng lượng 1 chỉ; trị giá: 1chỉ x 3.678.000 đồng = 3.678.000 đồng;

* Tài sản không thu hồi được:

- 01 cây vàng SJC 9999; trị giá: 10 chỉ x 3.669.000 đồng = 36.690.000 đồng;

- 01 miếng vàng SJC 9999, loại 01 chỉ; trị giá: 1 chỉ x 3.669.000 đồng = m3.669.000 đồng;

- 01 bộ xi men (vàng Sài Gòn) bộ 10 vòng, 7,2 chỉ; trị giá: 7.2 chỉ x 2.400.000 đồng/chỉ = 17.280.000 đồng;

- 01 vòng tay (vàng Sài Gòn và vàng trắng “bạch kim”), 03 chỉ; trị giá: 3 chỉ x 2.400.000 đồng = 7.200.000 đồng;

- 01 dây chuyền vàng Sài Gòn 03 chỉ; trị giá: 3 chỉ x 2.400.000 đồng = 7.200.000 đồng;

- 01 dây chuyền (vàng Sài Gòn và vàng trắng “bạch kim”), 1.3 cây; trị giá: 13 chỉ x 2.400.000 đồng = 31.200.000 đồng;

- 03 nhẫn vàng 9999, loại 0.5 chỉ/01 nhẫn; trị giá: 1,5 chỉ x 3.669.000 đồng = 5.503.500 đồng;

- 01 nhẫn mặt đá bằng vàng Sài Gòn, loại 2 chỉ; trị giá: 02 chỉ x 2.400.000 đồng/chỉ = 4.800.000 đồng;

- 02 nhẫn cưới bằng vàng Sài Gòn, tổng trọng lượng là 1,7 chỉ; trị giá: 1,7 chỉ x 2.400.000 đồng / chỉ = 4.080.000 đồng;

Tổng cộng giá trị tài sản trộm cắp là 157.990.500 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2018/HSST ngày 16-11-2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được t nh từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án ph và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20-11-2018, người bị hại bà Đinh Thị Kim Y có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Trần Thị H.

Ngày 28-11-2018, bị cáo Trần Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại bà Đinh Thị Kim Y vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Trần Thị H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Trần Thị H là thỏa đáng, tương xứng với t nh chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo và kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của người bị hại là không có căn cứ chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị H; Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Trần Thị H không có ý kiến tranh luận bào chữa gì. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Trần Thị H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Thị H và chị Đinh Thị Kim Y có quan hệ là chị dâu em chồng và cùng sinh hoạt trong cùng một gia đình. Do chị Y thường xuyên đi làm tại tỉnh Đắk Nông, ở nhà bị cáo phát hiện va li đồ của chị Y khóa cẩn thận cất vào tủ quần áo chung của gia đình. Do đang thiếu nợ tiền của nhiều người nên khoảng 12 giờ ngày 01/3/2018, bị cáo phá khóa va li đồ của chị Y, lấy số vàng trị giá 157.990.500 đồng của chị Y để tiêu xài và trả nợ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Trần Thị H mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt là thỏa đáng, tương xứng với t nh chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đã xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới và người bị hại cũng không cung cấp được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị H và kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của người bị hại bà Đinh Thị Kim Y, mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị H.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị H phải chịu án ph Hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H và người bị hại bà Đinh Thị Kim Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được t nh từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về án ph : Bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 đồng án ph Hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng mnghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HS-PT ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:26/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/01/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về