Bản án 10/2018/HS-PT ngày 07/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 10/2018/HS-PT NGÀY 07/02/2018 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 219/2017/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Võ Thanh N, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 232/2017/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo :

Võ Thanh N (tên gọi khác: C), sinh ngày 17 tháng 8 năm 1999 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 19 ngày), tại: Nha Trang, Khánh Hòa; nơi cư trú: Số 131/14 đường 2/4, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị Minh H; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: 

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06 tháng 5 năm 2017, Võ Thanh N cùng với Nguyễn Thị Thu Ng và 03 người bạn khác ăn uống tại quán bia Việt Đức trên đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Trong lúc ăn uống, N có mượn của Ng 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 để sử dụng rồi để lại điện thoại vào giỏ xách của Ng và tiếp tục ngồi chơi cùng mọi người. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, lợi dụng lúc Ng đi vệ sinh và thấy ba người bạn không để ý, N lục giỏ xách của chị Ng lấy chiếc điện thoại di động OPPO A39, tắt nguồn rồi giấu trong túi quần của mình và mang về nhà cất giấu. Ngày 15 tháng 5 năm 2017, N đem chiếc điện thoại trên đi cầm cố tại tiệm cầm đồ 124 - số 01KA đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa được 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Do nghi ngờ N lấy trộm điện thoại của mình, ngày 18 tháng 5 năm 2017, Ng đến Cơ quan công an trình báo sự việc. Tại cơ quan cảnh sát điều tra, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 150/TC-KH ngày 23 tháng 5 năm 2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A39 mà N chiếm đoạt có giá trị 4.290.000 đồng (bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 232/2017/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; các Điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật Hình sự năm 1999,

- Xử phạt bị cáo Võ Thanh N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 05 tháng 12 năm 2017, bị cáo Võ Thanh N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 46 và Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999, giữ nguyên mức phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo Võ Thanh N kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thanh N đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 06 tháng 5 năm 2017, tại quán bia Việt Đức trên đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Võ Thanh N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu Ng 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 có giá trị 4.290.000đ (bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Hành vi đó của bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an. Do đó, cấp sơ thẩm phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là có căn cứ.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho người bị hại; người bị hại cũng đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo. Mặc khác, chính sách hình sự của Bộ luật hình sự hiện hành đã có sự thay đổi theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó, không cần cách ly xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

[3] Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và Điểm e Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; các Điểm h, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46; Điều 60; Điều 69 và Khoản 1 Điều 74 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Võ Thanh N (tên gọi khác: C);

- Áp dụng Khoản 3 Điều 7; Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Thanh N (tên gọi khác: C);

- Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội đối với bị cáo Võ Thanh N (tên gọi khác: C),

- Xử phạt bị cáo Võ Thanh N 09 (chín) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 07 tháng 02 năm 2018).

Giao bị cáo Võ Thanh N cho Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Võ Thanh N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Bị cáo Võ Thanh N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 02 năm 2018).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.


158
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về