Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 369/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu L; nơi cư trú: Phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trịnh Anh C; nơi cư trú: Phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 3 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Thu L trình bày:

Chị Bùi Thị Thu L và anh Trịnh Anh C lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 2010, đến ngày 25/5/2015 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đến nay vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Gia Bảo, sinh ngày 29/10/2010 và Trịnh Gia Phong, sinh ngày 21/01/2017.

Quá trình chung sống, ngay từ đầu sống chung đã phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp và anh C mắc nghiện ma túy đá, sống không có trách nhiệm gia đình, vợ con. Bản thân chị L đã nhiều lần động viên và đưa anh C đi cai nghiện ma túy nhưng anh C đều không cai được. Chính vì nguyên nhân như vậy nên chị L và anh C sống với nhau không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra căng thẳng, cãi vã nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình và bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng không giảm. Từ đầu năm 2018, chị L và anh C sống ly thân cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay không còn khả năng đoàn tụ, chị L đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Anh C.

Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung là Trịnh Gia Bảo, sinh ngày 29/10/2010 và Trịnh Gia Phong, sinh ngày 21/01/2017. Ly hôn, chị L xin nhận nuôi dưỡng hai con chung đến khi thành niên và không yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L và anh C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Trịnh Anh C đến trụ sở Tòa án để viết bản tự khai, tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do.

Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và gia đình, kết quả đã thu thập được như sau: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C chị L chung sống với gia đình anh C tại địa chỉ số 24 Đ68 Nam Pháp 1, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh C chị L có 02 con chung là Trịnh Gia Bảo, sinh ngày 29/10/2010 và Trịnh Gia Phong, sinh ngày 21/01/2017. Từ năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp và kinh tế khó khăn. Và từ đầu năm 2018, anh C chị L sống ly thân cho đến nay. Địa phương và gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh C thì đề nghị Tòa án căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế để giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung và tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Chị L giữ nguyên quan điểm như trên và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C vì mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã hơn 01 năm nay, không còn khả năng đoàn tụ. Về con chung: Chị L xin nhận nuôi dưỡng hai con chung là Trịnh Gia Bảo và Trịnh Gia Phong đến khi thành niên và không yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị L và anh C không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trịnh Anh C vắng mặt phiên tòa lần thứ hai, không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng việc thụ lý vụ án cũng như quá trình xây dựng lập hồ sơ và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự quy định của Bộ  dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị L được ly hôn với anh C và giao hai con chung cho chị L nuôi dưỡng đến khi thành niên; về tài sản chung, chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

[1] Chị Bùi Thị Thu L và anh Trịnh Anh C lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng ngày 25/5/2015 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

[2] Quá trình chung sống, đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp và kinh tế khó khăn. Chị L và anh C đã sống ly thân hơn 01 năm nay, không còn quan tâm trách nhiệm đến nhau về mọi mặt.

[3] Xét cuộc sống chung của chị L và anh C mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần giải quyết cho chị L được ly hôn với anh C là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh C.

- Về việc nuôi con:

[4] Chị Bùi Thị Thu L và anh Trịnh Anh C có 02 con chung là Trịnh Gia Bảo, sinh ngày 29/10/2010 và Trịnh Gia Phong, sinh ngày 21/01/2017. Ly hôn, chị L xin nhận nuôi dưỡng hai con chung đến khi thành niên. Xét hai con chung còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ hơn. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Trịnh Gia Bảo muốn ở với mẹ đến khi thành niên. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Bảo và cháu Phong cho chị L nuôi dưỡng đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Chị L không yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về việc chia tài sản:

[5] Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí:

[6] Chị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thu L được ly hôn với anh Trịnh Anh C.

2. Về việc nuôi con: Giao con chung Trịnh Gia Bảo, sinh ngày 29/10/2010 và Trịnh Gia Phong, sinh ngày 21/01/2017 cho chị L trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không yêu cầu anh C đóng góp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc chia tài sản: Chị Bùi Thị Thu L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị Thu L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015671 ngày 19/3/2019 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị Thu L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Bùi Thị Thu L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Trịnh Anh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về