Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1983; địa chỉ: Số nhà 1149, tổ 6, ấp T, xã TM, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Võ Thị Thu T, sinh năm: 1987; địa chỉ: Số nhà 1149, tổ 6, ấp T, xã TM, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24-4-2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

Anh và chị T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân: Do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4- 2018 đến nay. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị T.

Bị đơn chị Võ Thị Thu T trình bày:

Chị thừa nhận lời trình bày của anh M về thời gian chung sống, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nay chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh M.

Về con chung: Có hai con tên Nguyễn Lập T, sinh ngày 11-10-2001 và Nguyễn Hiệp T, sinh ngày 16-4-2003. Hai anh chị thỏa thuận anh M tiếptục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và  giáo dục hai con chung, chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh có ý kiến như sau:

Về Tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.

Về nội dung: Anh M và chị T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn đối chiếu theo quy định của pháp luật thì không công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Ghi nhận hai anh chị thỏa thuận anh M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con, chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Anh M phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị Thu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Anh M và chị T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”; Điều 9 quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý’’ và tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định “... Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.

Do đó quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị T không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.

[3] Về con chung: Hai anh chị thỏa thuận, anh M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con Nguyễn Lập T, sinh ngày 11-10- 2001 và Nguyễn Hiệp T, sinh ngày 16-4-2003. Chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

[5] Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh đề nghị không công nhận quan hệ hôn nhân của anh M và chị T là vợ chồng. Về con chung: Ghi nhận hai anh chị thỏa thuận, anh M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con Nguyễn Lập T, sinh ngày 11-10-2001 và Nguyễn Hiệp T, sinh ngày 16-4-2003, chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh M phải chịu theo quy định pháp luật; Hội đồng xét xử thấy đề nghị này có cơ sở chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân và gia đình: Anh M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 14, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của anh Nguyễn Văn M và chị Võ Thị Thu T là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con Nguyễn Lập T, sinh ngày 11-10-2001 và Nguyễn Hiệp T, sinh ngày 16-4-2003. Chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh M phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010462 ngày 27-4-2018 tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh, anh M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Võ Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.


91
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về