Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 07/06/2018 về tranh chấp ly hôn

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN  

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1990, địa chỉ: Số nhà 120A, khu phố 3, thị trấn V, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1985, địa chỉ: Số nhà 15/4, ấp X, xã Th, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Nguyễn Thị Thanh L là Ng đơn trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án: Bà L và ông M kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng kí kết hôn tại uỷ ban nhân dân xã Th. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, Ng nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hợp nhau. Vợ chồng bà L đã ly thân đến nay được 24 tháng.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên bà L quyết định ly hôn với ông Phạm Văn M.

Về con chung: Bà L và ông M có 02 con chung tên Phạm Quỳnh Thảo Ng, sinh ngày 05/5/2012 và Phạm Quỳnh Bảo Ngh, sinh ngày 19/12/2014, hiện nay con do bà L nuôi dưỡng. Nếu được ly hôn, bà L yêu cầu nuôi 02 con chung, bà L không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ông Phạm Văn M là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của Nguyên đơn.

Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi Nghên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Phạm Văn M kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng kí kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Nay bà Nguyễn Thị Thanh L yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn M, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Ông Phạm Văn M đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với ông Phạm Văn M.

[3] Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Phạm Văn M chung sống với nhau được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, bà L trình bày Ng nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bà L không có tiếng nói chung, không hợp nhau. Vợ chồng bà L đã sống ly thân đến nay được 02 năm. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Ông M không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà L. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh L, cho bà Nguyễn Thị Thanh L ly hôn với ông Phạm Văn M.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Phạm Văn M có 02 con chung tên Phạm Quỳnh Thảo Ng, sinh ngày 05/5/2012 và Phạm Quỳnh Bảo Ngh, sinh ngày 19/12/2014, hiện nay con do bà L nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, bà L không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Phạm Quỳnh Thảo Ng và Phạm Quỳnh Bảo Ngh do bà L nuôi dưỡng, ông M không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Yêu cầu của bà L là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cho bà L trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phạm Quỳnh Thảo Ng và Phạm Quỳnh Bảo Ngh.

[5] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh L, cho bà Nguyễn Thị Thanh L ly hôn với ông Phạm Văn M.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Phạm Văn M có 02 con chung tên Phạm Quỳnh Thảo Ng, sinh ngày 05/5/2012 và Phạm Quỳnh Bảo Ngh, sinh ngày 19/12/2014, hiện nay con do bà L nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thanh L được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phạm Quỳnh Thảo Ng và Phạm Quỳnh Bảo Ngh. Ông Phạm Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con, ông Phạm Văn M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thanh L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002114, ngày 22 tháng 3 năm 2018, của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ông Phạm Văn M không phải chịu án phí.

4. Bà Nguyễn Thị Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 07/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về