Bản án 26/2017/HSST ngày 15/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 26/2017/HSST NGÀY 15/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2017/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1995

Nơi ĐKHKTT: Thôn 5, xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở hiện nay: Thôn Cao Lạng, xã IaLâu, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 6/12;

Con ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H

Tiền án, tiền sự: Không

Đầu thú ngày 10/4/2017. Bị bắt tạm giam ngày 24/4/2017 cho đến nay. Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lưu Đình Q, Trợ giúp viên pháp lý Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người bị hại: Lê Hoàng Q (B), sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn Tao Chor A, xã IaHrú, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Vắng, có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn văn O, sinh năm 1990

Trú tại: 50 Phạm Ngọc Thạch, phường Đống Đa, thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

2. Nguyễn Thế Tùng L, sinh năm 1995

Trú tại: Thôn 6, xã Ia Le, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hoàng Văn T, Nguyễn Văn O, Nguyễn Thế Tùng L và người phụ nữ tên Tg (chưa rõ lai lịch) là bạn của nhau và cùng ở chung khu nhà trọ tại thị trấn Nhơn Hòa, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Khoảng 21 giờ ngày 30/5/2016 chị T đang đi chơi và hát karaoke tại quán Karaoke L thuộc thôn Plei Đung, xã IaHrú, huyện Chư Pưh thì gặp nhóm anh Lê Hoàng Q, Nguyễn Trung N, Nguyễn Phi B và một số người bạn khác cũng hát karaoke, do khi nhóm anh Q đi ra có va chạm với chị T nên xảy ra mâu thuẫn thì anh Q dùng tay tát 01 cái vào mặt chị T. Khi bị anh Q đánh, chị T liền gọi điện thoại nói với Hoàng Văn T là mình bị đánh. Khi đó T, O và L đang ở cùng phòng trọ nên T nói cho O biết việc T bị đánh, O chỉ nói với T “Lên đó xem thế nào, cứ bình tĩnh giải quyết” mà không trao đổi, bàn bạc việc đánh nhau (BL 155 đến 160 - lời khai L; BL 115 đến 122 và 161, 162 - Lời khai O), T liền vào bếp lấy 01 con dao (loại dao thái thịt) dài khoảng 40cm dấu trong người rồi lấy xe môtô để đến chỗ T, thấy T đi thì L cũng chạy ra ngồi lên xe đi cùng. Khi T và L đến quán Karaoke gặp anh Q thì lời qua tiếng lại dẫn đến cãi nhau, khoảng 10 phút sau, khi T và anh Q đang cãi nhau thì một mình O đi xe môtô đến yêu cầu anh Q xin lỗi T nhưng anh Q không xin lỗi mà còn có thái độ thách thức. Do bực tức trước thái độ của anh Q và thấy anh Q đưa tay ra phía sau, T nghĩ anh Q lấy hung khí đánh nên liền rút con dao mang theo chém 03 nhát vào người anh Q làm cho anh Q bị các vết thương ở vùng má trái, cẳng tay và cánh tay trái, tay phải. Thấy thế O liền chạy lại mở cốp xe môtô lấy 01 dao mã tấu xông đến để chém nhưng anh Q bỏ chạy, O đuổi theo nhưng không kịp nên O không chém trúng và không gây thương tích cho anh Q, sau đó anh Q được đưa đi cấp cứu và điều trị, còn T và O chạy về vứt dao rồi bỏ trốn, đến ngày 10/4/2017 T ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số184/TTPY ngày 07/9/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:

- Một sẹo vết thương phần mềm dọc cung hàm trái kích thước 6,5cm x 0,3cm, sẹo liền, có ảnh hưởng thẩm mỹ: 11%.

- Hai sẹo vết thương phần mềm: Một vết hình chữ “V” từ mặt lưng đến mặt lòng bờ trụ, từ khớp bàn đốt ngón V lên mặt trước nếp gấp cổ tay đến mặt lưng giữa xương bàn V bên trái kích thước 14cm x 0,3cm, sẹo liền và một vết từ mõm trâm quay đến mặt lòng giữa ngón I tay phải kích thước 9cm x 0,7cm, sẹo liền, lồi: 8%.

- Gãy vỡ xương cổ tay một bên (xương tháp, xương đậu), còn dụng cụ cốđịnh xương cổ tay trái: 5%.

- Mẻ đầu dưới xương quay phải chưa đến ống tủy: 1%.

- Đứt động mạch quay phải sau phẩu thuật khâu nối kết quả tốt, không có biểu hiện thiếu máu nuôi dưỡng bên dưới: 4%.

- Tổn thương hoàn toàn thần kinh quay nông bên phải, định khu ở cổ tay (nhánh nông): 11%.

- Tổn thương thần kinh trụ bên trái mức độ rất nặng nhưng không hoàn toàn, định khu ở cổ tay, trên chỗ chia nhánh cho cơ dạng ngắn ngón 5 (nhánh sâu), vận động gấp duỗi, sấp ngữa cổ tay được nhưng còn đau, duỗi ngón IV-V còngiới hạn, cảm giác tê buốt một ngón rưỡi (ngón IV, ngón V), teo cơ cẳng tay 1cm, teo cơ ô mô các ngón: 11%.

- Đứt gân gấp ngón III-IV-V tay trái + Đứt gân duỗi ngón I tay phải đã phẩu thuật khâu nối, ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay: 3%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 43% (bốn mươi ba phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng lùi theo Thông  tư 20/2014/TT-BYT.

* Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra người bị hại đã kê khai và yêu cầu được bồi thường các khoản chi phí với tổng số tiền là 28.400.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng), đến nay gia đình bị can đã bồi thường 10.000.000đ (mười triệu đồng).

* Về vật chứng của vụ án:

Là 02 con dao đã sử dụng làm hùng khí phạm tội, khi bỏ trốn bị can đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số: 22/CTr-VKS ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 §iÒu 104 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn T với mức án từ  05 đến 06 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là hợp lý. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứvào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là có sự tác động của Nguyễn Văn O và thương tích gây ra cho anh Q không phải là do một mình bị cáo gây nên mà còn có anh O vì anh O kể lại với bị cáo anh O đuổi theo và chém gục anh Q; Đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để bị cáo đối chất với O tại Tòa.

Hội đồng xét xử xét lời khai tại phiên tòa của bị cáo là phù hợp với những chứng cứ, bản kết luận giám định pháp y, giấy chứng nhận thương tích, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của người tham gia tố tụng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 30/5/2016, khi nghe chị T điện thoại nói mình bị một số thanh niên đánh tại quá Karaoke L ở thôn Plei Đung, xã IaHrú, huyện Chư Pưh Hoàng Văn T đã mang theo 01 con dao dài khoảng 40cm cùng Nguyễn Thế Tùng L đi xe mô tô đến quán L thì giữa T và anh Lê Hoàng Q có lời qua tiếng lại cải nhau. Khoảng 10 phút sau Nguyễn Văn O ở cùng nhà trọ với T chạy xe mô tô đến, giữa O và anh Q cải nhau, khi anh Q có lời nói thách thức, O đã chạy tới xe mô tô của mình lấy mã tấu; lúc này thấy anh Q bỏ tay ra sau người, T nghĩ anh Q lấy hung khí đánh nên T rút con dao mang theo chém 03 nhát vào người Q làm cho Q bị thương ở vùng má trái, tay trái, tay phải, Q bỏ chạy sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích 184/TTPY ngày 07/9/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai: Anh Lê Hoàng Q bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 43%.

Khi gây thương tích cho anh Q, bị cáo đã sử dụng con dao là “hung khí nguy hiểm” được quy định tại tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại khoản 3Điều 104 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố là đúng người, đúng tội.

Đối với Nguyễn Văn O khi nghe T nói chị T bị đánh thì giữa O và T khôngcó sự bàn bạc về việc gây thương tích cho người khác mà chỉ nói đến xem tình hình thế nào và bình tĩnh giải quyết. Khi O đi xe mô tô đến sau T và có lời nói cải nhau với anh Q; mặc dù O cũng  chạy đến xe mô tô lấy mã tấu nhưng do anh Q đã bị T chém và bỏ chạy, O có đuổi theo không kịp anh Q, nên O không gây ra một thương tích cho nào cho anh Q (Bút lục 72 và 144 lời khai anh Q; Bút lục 157 và 167 lời khai Nguyễn Thế Tùng L). Giữa T và O không có sự bàn bạc cùng cố ý gây thương tích cho anh Q. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố về hình sự đối với O với vai trò đồng phạm với T về tội “Cố ý gây thương tích” cho anh Q là đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Thế Tùng L, có cùng đi với T; Tuy nhiên, giữa T và L không có trao đổi với nhau về việc gây thương tích cho anh Q; Đối với chị T có gọi điện thoại cho T nói là mình bị đánh mà không hề kích động T đánh anh Q. Do vậy, anh L và chị T cũng không phải là đồng phạm với Thịnh về tội “Cố ýgây thương tích”. Do vậy, việc bị cáo, người bào chữa yêu cầu hoãn phiên tòa để triệu tập anh Nguyễn Văn O là không cần thiết quy định tại khoản 1 Điều191 Bộ luật tố tụng hình sự

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của anh Lê Hoàng Q một cách trái pháp luật mà còn trực tiếp xâm hại đến trật tự, trị an của xã hội ở địa phương.

Hiện nay loại tội phạm xâm hại trực tiếp đến sức khỏe người khác có chiều hướng gia tăng, lấy việc giải quyết mâu thuẫn với nhau bằng bạo lực, đã gây dư luận xấu, bất bình trong nội bộ quần chúng nhân dân. Trước lần phạm tội này, ngày 03/6/2015 bị cáo còn bị Công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, sau đó bỏ trốn và bị truy nã. Để góp phần lập lại trật tự, an toàn xã hội cần xử phạt tù bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, HĐXX xét thấy tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; sau khi gây thương tích đã tích cực tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại ; “Đầu thú” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 47 xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định là hợp lý.

* Về vật chứng vụ án: 01 con dao mà bị cáo đã sử dụng làm hung khí  phạm tội, không thu giữ được; nên HĐXX miễn xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Lê Hoàng Q trong đơn xét xử vắng mặt yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí: Chi phí tiền xe cấp cứu, chi phí phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng, chi phí giám định, chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 28.715.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng, còn phải bồi thường 18.715.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với yêu cầu của người bị hại.Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hoàng Văn T, bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Lê Hoàng Q 18.715.000 đồng.

* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án hìnhphạt tù tính từ ngày bị bắt 24/4/2017

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hoàng Văn T, bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Lê Hoàng Q (B) số tiền 18.715.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi của số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và  935.750 đồng (18.715.000 đ x 5% = 935.750 đ) án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Những người vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về