Bản án 254/2017/HSST ngày 04/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 254/2017/HSST NGÀY 04/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Mở phiên tòa công khai ngày 04-8-2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 255/2017/HSST, ngày 19-7-2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Xuân H - sinh năm 1974.

ĐKNKTT: 2/28 V H, phường V H, thành phố NĐ, tỉnh N Đ.

Chỗ ở trước khi bị bắt: 5/22/155 T T T, phường L V, thành phố N Đ, tỉnh NĐ.

Nghề nghiệp: tự do            Văn hóa: 7 /12. Con ông: Trần Văn H, sinh năm 1943.

Con bà: Lê Thị C, sinh năm 1947.

Gia đình có 04 anh, chị em. Bị cáo là con thứ 3.

Có vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1973. (đã ly hôn) Chưa có con.

Tiền án: Ngày 29/8/2014 TAND thành phố Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: Ngày 27/12/2016 công an phường Bà Triệu xử phạt cảnh cáo hành vi:” Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nhân Thân: Ngày 12/3/2003 TAND tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2017 sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Nam Định.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h15’ ngày 31/5/2017, tổ công tác công an phường Nguyễn Du, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ khu vực trước cửa sân bóng đá Dệt đường Trần Đăng Ninh phát hiện Trần Xuân H đi xe máy BKS: 18B1- 42843 có biểu hiện nghi vấn kiểm tra H tự giác giao nộp từ tay phải 01 gói ni lon màu hồng trong là gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroin), tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa H cùng người làm chứng về trụ sở công an  lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Ngày 02/6/2017, Phòng  kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã có bản kết luận giám định số: 464/GĐKTHS  kết luận: Vật chứng  thu giữ của Trần Xuân H là chất ma túy; loại ma túy Heroin; trọng lượng 0,155 gam.

Tại cơ quan điều tra Trần Xuân H khai nhận mua gói heroin tại khu vực 3 tầng Phan Bội Châu của một nam thanh niên với giá 50.000đ.

Cáo trạng số: 264/QĐ-KSĐT, ngày 19-7-2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự (BLHS)

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX)

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, Nghị quyết số 41/2017/QH14.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân H từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Đề nghị HĐXX áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) xử lý số vật chứng đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 464/GĐKTHS ngày 02-6-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định

Cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 06h 15’  ngày 31-5-2017 tại khu vực trước cửa sân bóng đá Dệt đường Trần Đăng Ninh, phường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định, Trần Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,155 gam Heroin mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo đã có một tiền án chưa được xóa án tích phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, HĐXX áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS để tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: tại CQĐT cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo HĐXX áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Khi  quyết  định  hình  phạt  đối  với  bị  cáo  căn  cứ  Nghị  quyết  số 41/2017/QH14 áp dụng tất cả những tình tiết có lợi cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm kiếm lời bất chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: gói heroin đã thu giữ là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe máy đã thu giữ của bị cáo là của ông Trần Văn H xét không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H.

Đối với đối tượng đã bán gói ma tuý cho Trần Xuân H cơ quan cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh, nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Án phí HSST: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều   99   Bộ   luật   tố  tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng  khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

- Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14.

Xử phạt bị cáo: Trần Xuân H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-5-2017

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy số heroin đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 464/GĐKTHS (biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-7-2017)

3. Án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Xuân H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


80
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về