Bản án 25/2020/HS-ST ngày 11/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 25/2020/HS-ST NGÀY 11/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25A/2020/QĐXXST-HS ngày13 tháng 4 năm 2020 đối với:

1. Bị cáo: Phạm Tấn H, sinh ngày 01-10-1992, tại Tây Ninh. Tên gọi khác: Không có. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 06/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không. Con ông Phạm Tấn M, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị N, sinh năm 1971, cùng trú tại: khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Anh, chị, em ruột: 01 người. Vợ: Nguyễn Thị Như A, sinh năm 2002, trú tại: khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; con: 01 người, sinh năm 2020.

Tiền sự: Không có.

Tiền án: Có 03 tiền án

- Tại Bản án số 84/2012/HS-ST ngày 06/9/2012 của TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Phạm Tấn H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 47/2014/HS-ST ngày 15/7/2014 của TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Phạm Tấn H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 76/2016/HS-ST ngày 06/9/2016 của TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Phạm Tấn H 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 02-12-2019, chuyển tạm giam từ ngày 08- 12-2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985.

Địa chỉ: khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30-11-2019, anh Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1991, ngụ khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô của anh Tuấn chở Phạm Tấn H và chị Nguyễn Thị Như A, sinh ngày 18-12-2002, ngụ khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đến quán “Năm Hợi”, khu phố Ninh Tân, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để nhậu. Khi đến nơi, chị Như Anh nói đau bụng nên anh Tuấn điều khiển xe chở chị Như Anh về. Lúc này, H ngồi trong quán nhìn thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen bạc, biển số 70B1-686.44 của anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, ngụ khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để trước quán, có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để sử dụng. H đến lấy trộm chiếc xe chạy về cất giấu phía sau nhà rồi vào nhà nằm nghỉ. Anh Bời phát hiện H lấy trộm xe và đến nhà H tìm, H chỉ anh Bời chỗ cất giấu xe rồi bỏ trốn. Sau khi lấy lại xe, anh Bời đến Công an phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 84/KLĐG-TTHS ngày 03/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Tây Ninh kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44 (đã qua sử dụng) nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc, số khung 3907HY178149, số máy JA39E0178151 trị giá 14.000.000 đồng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã thu hồi 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn B.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Để có phương tiện sử dụng, ngày 30/11/2019, Phạm Tấn H đã lén lút lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Văn B là 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc trị giá 14.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của Phạm Tấn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tấn H từ 2 (hai) năm đến 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Bị cáo Phạm Tấn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Phạm Tấn H là người đã có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, đã tái phạm, chưa được xóa án tích thì đến ngày 30-11-2019, bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn B 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc trị giá 14.000.000 đồng để làm phương tiện sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, có 03 tiền án.

[6] Xét thấy, hành vi của bị cáo Phạm Tấn H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã có 03 tiền án về trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không có ý thức khắc phục lỗi lầm, không tu chí làm ăn mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lén lút chiếm đoạt xe mô tô trị giá 14.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn B để làm phương tiện đi lại. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây thiệt hại về tài sản cho người khác và gây mất trật tự trị an địa phương nên cần xét xử nghiêm, cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc, số khung 3907HY178149, số máy JA39E0178151. Anh Nguyễn Văn B không yêu cầu gì thêm.

[8] Xét lời luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Tấn H phải chịu 200.000 đồng;

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-12-2019 .

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô hai bánh, biển số 70B1-686.44, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc, số khung 3907HY178149, số máy JA39E0178151. Anh Nguyễn Văn B không yêu cầu gì thêm.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Tấn H phải chịu 200.000 đồng;

4. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trưng hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2020/HS-ST ngày 11/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:25/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về