Bản án 25/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 25/2019/HS-ST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 25 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân A phố L, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2019, đối với các bị cáo:

1. Bùi A, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1988 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 1, Khối 3, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi S và bà Đinh A; có vợ là Đào H và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/6/2007 bị Công an A phố L xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 06/10/2014 bị Công an A phố L xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, các lần xử phạt hành chính trên đã được xóa; bị bắt tạm giam từ ngày 20/11/2018 đến nay. Có mặt.

2. Lục B, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1999 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 4/1, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục C và bà Nguyễn Q; vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/4/2017 bị Công an A phố L xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, lần xử phạt hành chính trên đã được xóa; bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2018 đến nay. Có mặt.

3. Đỗ C, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1986 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Thôn M, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ T và bà Nguyễn N; có vợ là Lê G và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Có 02 tiền án (theo các bản án của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn, gồm: Bản án số 13/HSST ngày 27/4/2006 về hành vi Trộm cắp tài sản (18 tháng tù); Bản án số 17/2008/HSST ngày 20/6/2008 về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy (09 năm tù)); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/10/2017 bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, lần xử phạt hành chính trên đã được xóa; bị bắt tạm giam từ ngày 07/12/2018 đến nay. Có mặt.

4. Nguyễn D, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1998 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 01/05, đường N, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Tổ 5, Khối 8, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V và bà Nguyễn M; vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2018 đến nay. Có mặt.

5. Hà Đ, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2000 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 4/16, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà V và bà Hải T; vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 20/11/2018 đến nay. Có mặt.

6. Lê E, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1997 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 79C, đường Phai Vệ, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Năm Châu và bà Hà Thị Hằng; vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 19/12/2018 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số 10/1, đường Lương Văn Chi, phường NLC3 Văn Thụ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đào H. Địa chỉ: Tổ 1, Khối 3, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. NLC 1. Có mặt.

2. NLC2. Vắng mặt.

3. NLC3. Vắng mặt.

4. NLC4. Có mặt.

5. NLC5. Vắng mặt.

6. NLC6. Có mặt.

7. NLC7. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/10/2018 NLC 1 đến nhà NLC2 ở số 21, đường Chu Văn An, phường Vĩnh Trại, thành phố L để đòi nợ dẫn đến cãi nhau với NLC2, NLC3 là anh trai của NLC2 dùng đao chém vào cổ tay và cánh tay của NLC1 gây thương tích, sau khi chém NLC1, NLC3 sợ NLC1 gọi người đánh trả thù đã đến nhà Nguyễn H nhờ H nói chuyện hòa giải.

Sau khi bị chém, NLC 1 gọi điện cho NLC4 nói bị đánh và nhờ NLC4 đến khu vực đường Lê Lợi giao nhau với đường Chu Văn An để đưa NLC1 đi bệnh viện. NLC4 lúc này đang hát karaoke cùng Bùi A, Đỗ C, Nguyễn D, Lê E và NLC5 ở quán Karaoke Luxury, số 11, đường Tam Thanh, thành phố L. NLC4 nói lại với A về việc NLC1 bị đánh, A bảo cả nhóm cùng đi gặp NLC1. Bùi A điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12A – 09571 chở C, D, E, NLC4 và NLC5, lúc này Hà Đ, Lục B, NLC7 và NLC6 đi xe mô tô đến quán Karaoke Luxury để hát thì gặp Bùi A lên xe ô tô đi nên Đ, B, NLC7, NLC6 điều khiển xe mô tô đi cùng. Cả nhóm đi đến khu vực ngã tư đường Lê Lợi giao đường Chu Văn An thì thấy NLC1 ngồi ở quán ăn đêm băng vết thương. Sau khi biết NLC1 bị NLC3 chém, A bảo NLC1 đi cùng cả nhóm đến nhà NLC3 để gọi NLC3 ra nói chuyện. Bùi A điều khiển xe ô tô cùng cả nhóm đi vào đường Chu Văn An đỗ xe đối diện nhà NLC3 để NLC1 đến gọi cửa. NLC2 ở trong nhà nhìn thấy NLC1 ở ngoài đã gọi điện thông tin cho NLC3 biết, NLC3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12A - 09136 cùng H đi về nhà.

NLC1 gọi cửa nhà NLC3 khoảng 03 phút nhưng không ai mở cửa, A bảo NLC1 cùng mọi người lên xe để đưa NLC1 vào bệnh viện, ngay lúc đó NLC3 và H đi xe đến đỗ phía sau xe của A. NLC3 cùng H xuống xe, NLC3 cầm theo một thanh đao nhọn dài 58 cm, H cầm theo một con dao nhọn dài khoảng 01 mét cùng lao đến chém nhóm của A nhưng không trúng ai. Bùi A đi đến xe ô tô biển kiểm soát 12A – 09571 mở cốp lấy 01 dao quắm tra cán dài khoảng 1 mét, Lê E, Đỗ C, Lục B và Hà Đ cùng chạy đến xe của A lấy mỗi người 01 dao quắm tra cán rồi cùng A đuổi đánh NLC3 và H. NLC3 và Nguyễn Fbỏ chạy ra hướng đường Lê Lợi. Nguyễn Fvừa chạy vừa ngoái lại phía sau thì bị vấp ngã, A, Đ, B, E lao đến dùng dao quắm chém vào chân và đùi H, C dùng chân đạp nhiều phát vào mặt, đầu và đập cán dao vào người H, Nguyễn D lấy trong người con dao nhọn, loại dao gấp dài 20 cm ném về phía H và dùng chân đạp nhiều phát vào mông, lưng và đầu H.

NLC4, NLC5, NLC6, NLC7 và NLC 1 đi bộ đến sau, thấy H bị đánh nằm ở đường thì NLC5 vào can ngăn không cho mọi người đánh H nữa. Nhóm của A quay ra đuổi đánh NLC3 nhưng không được đã quay lại cất dao vào cốp xe ô tô và đưa NLC1 vào bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn cứu chữa. Nguyễn H được người nhà đưa vào bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn cứu chữa. Trên đường về nhà khi đi qua cầu Đông Kinh, A dừng xe ô tô mở cốp xe biển kiểm soát 12A – 09571 vứt số dao trên xuống sông Kỳ Cùng, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo bỏ trốn và trong các ngày 20 tháng 11 năm 2018, ngày 06, 07, 19, 26 tháng 12 năm 2018 các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Lục B, Đỗ C, Lê E, Nguyễn D đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Tại Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số 06/2019/TgT ngày 25/12/2018, của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn H là 26% (cộng lùi) gồm: Nhiều sẹo nhỏ vùng thắt lưng trái, sẹo liền đốt ngón III tay phải, sẹo đốt gần ngón II tay phải, sẹo sây xước vùng cẳng tay phải, sẹo đốt gần ngón I tay trái, 02 sẹo vùng 1/3 giữa mặt ngoài đùi trái, sẹo trước ngoài vùng cổ chân trái, tỷ lệ 04%; Sẹo lớn vùng đùi trái, sẹo lớn vùng gót chân phải, tỷ lệ 08%; Vỡ xương gót chân phải, kết quả tốt, tỷ lệ 11%; Tổn thương nhánh thần kinh hông kheo trong, tỷ lệ: 06 %.

Cáo trạng số 16/KSĐT ngày 18 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân A phố L đã truy tố các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Lục B, Lê E, Nguyễn D về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Đỗ C về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Đỗ C, Lục B, Lê E, Nguyễn D thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố.

Anh Nguyễn H trình bày: Các bị cáo khai tại phiên tòa về việc gây thương tích cho anh H là đúng. Bản thân anh H đã được các bị cáo bồi thường đầy đủ anh không có yêu cầu gì thêm. Anh H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Chị Đào H trình bày: Chị H là người trực tiếp giao tiền cho bị hại anh Nguyễn H (70.000.000 đồng), số tiền là do các bị cáo cùng đóng góp vào để bồi thường cho bị hại. Trong đó, qua tác động của chồng là bị cáo A, chị H góp 40.000.000 đồng. Chị H không có ý kiến hoặc yêu cầu lấy lại số tiền đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi A từ 30 đến 36 tháng tù. Xử phạt các bị cáo Hà Đ, Lục B, Lê E, Nguyễn D từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ C từ 30 đến 36 tháng tù. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 03 con dao bằng kim loại. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng bị thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 21/10/2018, tại khu vực số 21, đường Chu Văn An, phường Vĩnh Trại, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Đỗ C, Lục B, Lê E, Nguyễn D đã có hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại Nguyễn H. Khi các bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích thì bị hại không có khả năng chông cư (bị ngã), về tương quan lực lượng các bị cáo có lưc lương đông hơn , trong tay cầm dao quắm là hung khí nguy hiểm chém nhiều phát gây thương tích 26% cho bị hại Nguyễn H, điêu đo thê hiên tinh chât côn đô , hung han , coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi trên bị cáo Đỗ C có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Lục B, Lê E, Nguyễn D về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Đỗ C về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư nơi xảy ra vụ án, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong đó, bị cáo Đỗ C là đối tượng có nhân thân xấu, từng có 02 tiền án lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, năm 2017 bị Công an huyện Văn Lãng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (đến nay đã được xóa). Bị cáo Bùi A có nhân thân xấu, từng có 02 tiền sự bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi Cố ý gây thương tích (đến nay đã được xóa). Bị cáo Lục B có nhân thân xấu, từng có 01 tiền sự bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (đến nay đã được xóa). Các bị cáo Nguyễn D, Hà Đ, Lê E chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ cho bị hại; nguyên nhân xảy ra hành vi phạm tội có một phần lỗi của bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đến Cơ quan điều tra đầu thú. Vì vậy, cả 06 bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[7] Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng được tổ chức dưới hình thức đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò để có mức án tương xứng đối với từng bị cáo: Trong vụ án cả 06 bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội và đều là người thực hành tích cực, trực tiếp gây thương tích cho bị hại, trong đó: Bị cáo Bùi A là người khởi xướng và chuẩn bị hung khí nên giữ vai trò chính, bị cáo Đỗ C phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên hai bị cáo này phải chịu mức án cao nhất. Các bị cáo Đ, B, E là người thực hành tích cực dùng dao quắm chém vào chân, đùi bị hại giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Bị cáo Nguyễn D dùng chân đạp nhiều phát và dùng dao nhọn ném về phía bị hại giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.

[8] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 dao kim loại màu đen kích thước 20 cm x 03 cm; 01 dao gắn cán bằng kim loại dạng ống, kích thước 1,16 x 0,07m, lưỡi dao có kích thước 0,065 x 0,42 m, cán dao có kích thước 0,74 x 0,035m; 01 thanh đao dài 58 cm, lưỡi đao nhọn dài 36,5 cm, bản rộng 7 cm, chuôi đao bằng gỗ dài 21,5cm.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho bị hại, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Đối với NLC4, NLC5, NLC6, NLC7 và NLC 1 không có lời nói, hành động giúp sức, không được tham gia đuổi đánh bị hại nên không liên quan đến việc phạm tội. Hành vi của NLC3 gây thương tích cho NLC 1 đã được khởi tố trong một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Lục B, Lê E, Nguyễn D. Căn cứ vào điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đỗ C.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Đỗ C, Lục B, Lê E, Nguyễn D, phạm tội Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Bùi A 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2018.

- Xử phạt bị cáo Đỗ C 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2018.

- Xử phạt bị cáo Lục B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2018.

- Xử phạt bị cáo Hà Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2018.

- Xử phạt bị cáo Lê E 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2018.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2018.

3. Về xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy: 01 con dao kim loại màu đen kích thước 0,20 x 0,03m; 01 con dao gắn cán bằng kim loại dạng ống, có kích thước 1,16 x 0,07m, lưỡi dao có kích thước 0,065 x 0,42m, cán dao có kích thước 0,74 x 0,035m; 01 thanh đao dài 58 cm, lưỡi đao màu trắng sắc nhọn dài 36,5 cm, bản rộng 07 cm, chuôi đao bằng gỗ có quấn đai kim loại màu vàng, chuôi dài 21,5cm, có vỏ đựng bằng gỗ màu vàng, kích thước 49 x 9,5 cm, có dây treo màu đỏ.  (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 01 năm 2019).

4. Về án phí: Các bị cáo Bùi A, Hà Đ, Đỗ C, Lục B, Lê E, Nguyễn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:25/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về