Bản án 25/2019/HS-ST ngày 03/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y.S, TỈNH T.Q

BẢN ÁN 25/2019/HS-ST NGÀY 03/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y.S, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2019/TLST-HS, ngày 08/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS, ngày 25/3/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn T, sinh ngày 02/01/1980; tên họi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đồng T, xã D, huyện X, tỉnh Y; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 02/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Đặng Văn N, sinh năm 1952; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; anh chị em ruột: Có 08 người bị cáo là thứ năm; vợ, con: Chưa có;

* Tiền án: Không;

* Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 181/QĐ-XPVPHC ngày 28/5/2018 của Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đối với Đặng Văn T về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng;

* Nhân thân:

+ Bản án số 82/2004/HSST ngày 20/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt Đặng Văn T 07 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Ngày 24/10/2007 Chí chấp hành xong các quyết định của Bản án;

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPVPHC ngày 19/7/2013 của Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đối với Đặng Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng. Chí chấp hành xong ngày15/8/2013.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987; trú tại: Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1983; trú tại: Thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh B. Vắng mặt.

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1992 (Tên gọi khác Trần Văn Quân); trú tại: Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q. Vắng mặt.

- Chị Đường Thị H, sinh năm 1982; Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/12/2018, Đặng Văn T (sinh năm 1980, trú tại Thôn Đồng T, xã D, huyện X, tỉnh Y) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 22H3-3416 (Chí mượn của Nguyễn Văn Thanh, trú tại thôn Cây Quân, xã Mỹ Bằng, huyện Y.S, tỉnh T.Q) chở Nguyễn Trung T, sinh năm 1983, trú tại Thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh B đi sang khu vực xã Mỹ Bằng, huyện Y.S, tỉnh T.Q mua ma túy để sử dụng. Chí mua được 01 gói Heroin của người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) rồi cùng Thành sử dụng hết bằng hình thức đốt hút vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, Thành rủ Chí đi tìm gia đình nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Chí đồng ý và điều khiển xe mô tô biểm kiểm soát 22H3-3416 chở Thành đi theo quốc lộ 37 sang khu vực thành phố T.Q theo đường dẫn cầu Tân Hà lên huyện Y.S, tỉnh T.Q. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến khu vực Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q cả hai phát hiện lán chăn nuôi của chị Nguyễn Thị Thu H, trú tại Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q không có người trông coi. Chí dừng xe đứng ngoài cảnh giới, Thành đi bộ lên lán bặt trộm được 02 con gà mái loại gà ta, trong đó 01 con lông màu vàng có trọng lượng là 2,0 kg, một con lông màu đen có trọng lượng là 1,8 kg rồi cho vào bên trong áo khoác đang mặc. Sau đó đi ra chỗ Chí đứng đợi, Thành bảo với Chí đã trộm được gà. Chí nổ máy điều khiển xe mô tô chở Thành đi được khoảng 500m thì dừng lại, Thành xuống xe nhặt bao tải dứa ở ven đường cho 02 con gà vào tải. Cùng lúc này, được người dân báo có người trộm gà, chị Nguyễn Thị Thu H đi xe mô tô từ nhà lên lán (cách khoảng 700m) để kiểm tra, khi gặp chị Hoài đi đến, sợ bị phát hiện Thành vứt bao tải đựng gà vào ven đường và cùng Chí lên xe đi về. Cả hai đi được khoảng 200m thì bị người dân giữ lại và mời chính quyền địa phương cùng Công an xã Tân Tiến đến lập biên bản và thu giữ tang vật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KLĐG ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y.S, tỉnh T.Q kết luận: 02 (Hai) con gà mái (loại gà ta) tổng trọng lượng là 3,8 kg (01 con lông màu vàng có trọng lượng là 2,0 kg, một con lông màu đen có trọng lượng là 1,8 kg). Tổng trị giá là 418.000 đồng (Bốm trăm mười tám nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 02 (Hai) con gà mái (loại gà ta) tổng trọng lượng là 3,8 kg, 01 bao tải dứa màu trắng (kích thước 50cm x 90cm), 01 xe mô tô biển kiểm soát 22H3-3416. Ngày 25/12/2018 và ngày 12/02/2019 cơ quan điều tra đã trả lại 02 con gà cho chị Nguyễn Thị Thu H, trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn Thanh.

Quá trình điều tra, Đặng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Trung T, xét thấy Thành không có tiền án, tiền sự, giá trị tài sản trộm cắp thấp (dưới 2.000.000 đồng) nên không đủ yêu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên hành vi trên cùng với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thành, Chí đã vi phạm Điều 15, Điều 21 Nghị quyết 167/2013/NQ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y.S để chuyển toàn bộ tài liệu đến Công an huyện Y.S để xử lý hành chính theo quy định. Ngày 28/12/2018, trưởng Công an huyện Y.S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 393, 394, 395/QĐ – XPVPHC đối với Thành, Chí, hình thức phạt tiền.

Cáo trạng số 25/CT- VKSYS ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y.S, tỉnh T.Q đã truy tố bị cáo về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.

*Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải dứa màu trắng (kích thước 50cm x 90cm).

*Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí, tuyên quyền kháng cáo bản án đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Đại diện Viện Kiểm sát và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 09/12/2018 tại Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q. Đặng Văn T, sinh năm 1980, trú tại Thôn Đồng T, xã D, huyện X, tỉnh Y đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội Trộm cắp tài sản lại tiếp tục có hành vi trộm cắp 02 con gà trị giá 418.000 đồng (Bốn trăm mười tám nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Thu H trú tại Xóm A, xã S, huyện Y.S, tỉnh T.Q.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Y.S, tỉnh T.Q truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp là trái pháp luật. Bị có nhân thân xấu, tại Bản án số 82/2004/HSST ngày 20/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Ngày 24/10/2007 đã chấp hành xong các quyết định của Bản án; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ- XPVPHC ngày 19/7/2013 của Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đối với bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng, ngày15/8/2013 đã chấp hành xong. Trước đó bị cáo đã thực hiện hàng vi trộm cắp tài sản đã bị xử lý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt tù nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung có hiệu quả.

[2]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy rằng bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định là phù hợp.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/12/2018 và ngày 12/02/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại 02 con gà cho chị Nguyễn Thị Thu H, trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 22H3-3416 cho anh Nguyễn Văn Thanh. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5]. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 bao tải dứa màu trắng (kích thước 50cm x 90cm. Xét thấy bao tải dứa không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Y.S; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y.S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Chí ở khu vực xã Mỹ Bằng, huyện Y.S do không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Văn Thanh cho bị cáo Đặng Văn T mượn xe mô tô, sau đó Chí sử dụng làm phương tiện phạm tội, Thanh hoàn toàn không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn Thanh, HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị vào trại thi hành án.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bao tải dứa màu trắng (kích thước 50cm x 90cm tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y.S, tỉnh T.Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.S, tỉnh T.Q.

3. Căn cứ: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (03/4/2019; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


98
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về