Bản án 25/2018/HNGĐ-ST ngày 18/10/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 25/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 18 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 171/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Mỹ T, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T1, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Sơn Vũ A , sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp K, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Lâm Thị Mỹ T trình bày:

Vào năm 2010, bà và ông Sơn Vũ A có kết hôn với nhau theo phong tục, tập quán trên cơ sở hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Chung sống thời gian thì ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng bà thường xuyên gây gỗ nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và ông bà sống ly thân từ đầu năm 2014 cho đến nay nhưng không có hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Sơn Vũ A .

Trong thời gian sống chung ông bà có hai người con chung tên Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012. Hiện nay đang sống với bà. Bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông Sơn Vũ A phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia phiên tòa đã chấp hành đúng nội quy phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đinh năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Thị Mỹ T.

+ Về con chung: Giao con chung tên Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và cháu Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012 cho bà Lâm Thị Mỹ T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Sơn Vũ A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Mỹ T xác định trong thời gian chung sống bà T và ông Sơn Vũ A không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Sơn Vũ A mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 171/TB- TLVA ngày 05/7/2018; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập số 171 ngày 20/7/2018; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập số 172 ngày 24/8/2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử số 47/2018/QĐXXST-DS, giấy triệu tập số 47 ngày 12/9/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2018/QĐST – HNGĐ ngày 28/9/2018 nhưng vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Sơn Vũ A .

[2]. Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Mỹ T và ông Sơn Vũ A có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định từ Điều 9 đến Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Sơn Vũ A và bà Lâm Thị Mỹ T là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bà Lâm Thị Mỹ T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông Sơn Vũ A . Xét yêu cầu của bà Ten Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống, ông Sơn Vũ A không lo chăm sóc cho gia đình. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gởi thông báo về việc thụ lý cho ông Sơn Vũ A nhưng ông Sơn Vũ A không có văn bản phúc đáp và giữa bà Ten, ông Sơn Vũ A từ khi sống ly thân vào năm 2014 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh ngày 11/9/2018 về tình trạng hôn nhân giữa bà Lâm Thị Mỹ T và ông Sơn Vũ A của Tòa án nhân dân huyện L. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Sơn Vũ A và bà Lâm Thị Mỹ T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Lâm Thị Mỹ T được ly hôn với ông Sơn Vũ A .

[3]. Về con chung: Tại phiên tòa bà Lâm Thị Mỹ T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012. Xét thấy đối với cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 có nguyện vọng được sống với bà Lâm Thị Mỹ T, riêng cháu Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012 hiện nay sống với bà Lâm Thị Mỹ T và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Mỹ T là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012.

Ông Sơn Vũ A có quyền thăm nom hai cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012 không ai được cản trở theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Lâm Thị Mỹ T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Sơn Vũ A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sơn Thị A T và cháu Sơn Đa M theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Thị Mỹ T không yêu cầu ông Sơn Vũ A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Lâm Thị Mỹ T cho rằng trong thời gian chung sống bà Ten, ông Sơn Vũ A không có tài sản chung, nợ chung nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết, Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết là có căn cứ.

[6]. Về án phí: Bà Lâm Thị Mỹ T phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Ông Sơn Vũ A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Mỹ T và ông Sơn Vũ A được ly hôn.

2. Về con chung: Bà Lâm Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và cháu Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012. Ông Sơn Vũ A có quyền thăm nom cháu Sơn Thị A T, sinh ngày 14/6/2011 và Sơn Đa M, sinh ngày 13/12/2012 không ai được cản trở.

Bà Lâm Thị Mỹ T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Sơn Vũ A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sơn Thị A T và cháu Sơn Đa M.

3. Ông Sơn Vũ A không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Lâm Thị Mỹ T không yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có và các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Mỹ T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003090 ngày 03/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Như vậy, bà Lâm Thị Mỹ T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Sơn Vũ A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

201
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018/HNGĐ-ST ngày 18/10/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:25/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về