Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 24/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 19/2019/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Triệu Văn C, sinh năm 1984 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Bàn Thị H, sinh năm 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Triệu Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bàn Thị H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2005 đến năm 2011 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, hạnh phúc, đến năm 2017 thì bắt đầu nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan về điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm ngày càng rạn nứt dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh C và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó anh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Triệu Phúc T, sinh ngày 05/12/2006, Triệu Hải Đ, sinh ngày 05/12/2011. Sau khi ly hôn anh C có nguyện vọng nuôi cả hai con và yêu cầu chị H cấp dưỡng cho anh nuôi 02 con, mỗi con một tháng là 500.000đồng, 02 con mỗi tháng là 1.000.000đồng cho đến khi thành niên.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Chị Bàn Thị H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H xác nhận về thời gian chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước như anh C trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng tình cảm, bất đồng kinh tế trong cuộc sống hằng ngày, ngoài ra anh C ngoại tình với người phụ nữ khác nên về nhà kiếm cớ đánh đập, chửi bới chị H, anh C nghe người khác về ruồng bỏ vợ con, không chăm lo cuộc sống vợ con nên chị và anh C đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay anh C yêu cầu ly hôn thì chị H không đồng ý do chị H mong muốn gia đình đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc các con.

Về con chung: Chị H xác nhận chị và anh C có 02 người con chung như anh C trình bày là đúng, nếu Toà giải quyết ly hôn thì chị H đồng ý giao con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị không đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của anh C vì lương công nhân của chị mỗi tháng được hơn 4.000.000đồng chỉ đủ trang trải cuộc sống cá nhân của chị.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Theo đơn khởi kiện của anh Triệu Văn C yêu cầu ly hôn với chị Bàn Thị H, nơi cư trú của chị Bàn Thị H tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh Triệu Văn C và chị Bàn Thị H tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 05/4/2011. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Triệu Văn C và chị Bàn Thị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Triệu Văn C thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn anh và chị H chung sống với nhau hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, nhiều lần anh chị còn xô xát lẫn nhau, vì vậy anh Triệu Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bàn Thị H. Bị đơn chị Bàn Thị H xác nhận tình trạng hôn nhân giữa chị và anh C như anh C yêu cầu khởi kiện là đúng, ngoài ra chị còn trình bày anh C còn có quan hệ tình cảm với người phục nữ khác. Tuy nhiên hiện nay chị có nguyện vọng về đoàn tụ gia đình với anh C để chăm sóc các con. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Triệu Văn C và chị Bàn Thị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế thì cuối năm 2017 đến nay anh C, chị H đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do đó mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Triệu Văn C là phù hợp.

Xét nguyện vọng nuôi con của anh Triệu Văn C thấy rằng: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Triệu Phúc T, sinh ngày 05/12/2006, Triệu Hải Đ, sinh ngày 05/12/2011. Sau khi ly hôn anh C có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con, chị Bàn Thị H cũng đồng ý theo yêu cầu của anh C, 02 con của anh chị là Triệu Phúc T và Triệu Hải Đ cũng có nguyện vọng sau khi anh C chị H ly hôn thì tiếp tục ở với bố là anh C nên cần giao con chung cho anh C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh Triệu Văn C thấy rằng: Nguyên đơn anh Triệu Văn C yêu cầu chị Bàn Thị H cấp dưỡng cho anh nuôi con, mỗi con một tháng là 500.000 đồng, 02 con một tháng là 1.000.000đồng cho đến khi thành niên, chị Bàn Thị H không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của anh C vì lương công nhân của chị mỗi tháng được khoảng hơn 4.000.000đồng chỉ đủ trang trải cuộc sống cá nhân của chị, sau khi xem xét mức thu nhập, khả năng thực tế của chị Bàn Thị H và nhu cầu thiết yếu sinh hoạt hàng ngày của cháu T và cháu Đ thì yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh C là không cao so với thực tế. Xét thấy việc nuôi dưỡng con là nghĩa vụ của cha, mẹ, vì vậy cần buộc chị Bàn Thị H cấp dưỡng cho anh Triệu Văn C nuôi con, mỗi con một tháng là 500.000đồng cho đến khi thành niên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Triệu Văn C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Bàn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Triệu Văn C, anh Triệu Văn C được ly hôn với chị Bàn Thị H.

[2] Về con chung: Giao con chung Triệu Phúc T, sinh ngày 05/12/2006, Triệu Hải Đ, sinh ngày 05/12/2011 cho anh Triệu Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Bàn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Triệu Văn C nuôi con Triệu Phúc T, sinh ngày 05/12/2006 mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi con thành niên, chị Bàn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Triệu Văn C nuôi con Triệu Hải Đ, sinh ngày 05/12/2011 mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi con thành niên, phương thức cấp dưỡng được thực hiện đình kỳ hằng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Anh Triệu Văn C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp theo Biên lai thu số 0009127 ngày 15/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Chị Bàn Thị H phải chịu 300.000(Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:24/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:17/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về