Bản án 24/2019/DS-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 24/2019/DS-ST NGÀY 12/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2019/TLST-DS ngày 21/3/2019; Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2019; giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng A.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th – Tổng giám đốc, Ngân hàng A.

Địa chỉ: Số 169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

+Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh Bích T – Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng A huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

+ Bà Trịnh Bích T ủy quyền lại cho ông Nguyễn Hải A – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng A huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (Ông A có mặt).

Đa chỉ: ấp A, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh ST.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Minh Th, sinh năm 1997.

Địa chỉ: ấp B, xã PT, huyện CT, tỉnh ST (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần H.

Địa chỉ: ấp B, xã PT, huyện CT, tỉnh ST (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 12 năm 2018 của nguyên đơn Ngân hàng A, các chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà ngày hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Hải A trình bày:

Vào ngày 11/4/2017, Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành có cho bà Trần Thị Minh Th vay các khoản vay sau:

- Khoản vay thứ 1: Cho chị Th vay số tiền 50.000.000 đồng, mục đích cho vay để chăn nuôi bò, lãi suất 0,6875%/tháng, lãi suất quá hạn 0,89375%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi). Đến thời điểm hiện nay, đối với khoảng vay này chị Th còn nợ lại 50.000.000 đồng tiền vốn vay và lãi tạm tính đến ngày 05/12/2018 là 6.909.375 đồng (đã trả được số tiền lãi là 669.375 đồng), còn nợ lại tiền lãi là 6.240.000 đồng.

- Khoản vay thứ 2: Cho chị Th vay số tiền 40.000.000 đồng, mục đích cho vay để mua bán tạp hóa, lãi suất 0,55%/tháng, lãi suất quá hạn 0,715%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi). Đến thời điểm hiện nay, đối với khoảng vay này chị Th còn nợ lại 40.000.000 đồng tiền vốn vay và lãi tạm tính đến ngày 05/12/2018 là 5.527.500 đồng (đã trả được số tiền lãi là 2.537.500 đồng), còn nợ lại tiền lãi là 2.990.000 đồng.

Tng số tiền vốn vay của 02 khoản vay nêu trên chị Th chưa thanh toán cho Ngân hàng Chính sách xã hội là 90.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn chưa thanh toán tạm tính đến ngày 05/12/2018 là 9.230.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (12/9/2019) là 15.109.709 đồng.

Nay đã quá thời hạn thanh toán tiền vốn và lãi vay theo khế ước vay vốn của Ngân hàng A, phòng giao dịch huyện Châu Thành với bà Trần Thị Minh Th. Nên Ngân hàng A yêu cầu chị Th, anh H phải có nghĩa vụ thanh toán tiền vốn và lãi vay nêu trên cho Ngân hàng để đảm bảo chính sách thu hồi nguồn vốn và thực hiện chính sách cho vay của Ngân hàng A tại địa phương.

* Bị đơn chị Trần Thị Minh Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần H được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng đều vắng mặt, không có lý do và không có ý kiến trả lời cho Tòa án biết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A về việc yêu cầu thanh toán tiền vốn và lãi vay nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị đơn chị Trần Thị Minh Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần H. Xét thấy, anh H, chị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn chị Trần Thị Minh Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần H theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án: Ngày 11/4/2017, Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành có cho hộ chị Trần Thị Minh Th vay 02 khoản vay, cụ thể như:

- Khoản vay thứ 1: Cho chị Th vay số tiền 50.000.000 đồng, mục đích cho vay để chăn nuôi bò, lãi suất 0,6875%/tháng, lãi suất quá hạn 0,89375%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi).

- Khoản vay thứ 2: Cho chị Th vay số tiền 40.000.000 đồng, mục đích cho vay để mua bán tạp hóa, lãi suất 0,55%/tháng, lãi suất quá hạn 0,715%/tháng, thời hạn cho vay 05 năm, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần (phân kỳ trả vốn và lãi).

Tng số tiền vốn vay của 02 khoản vay nêu trên chị Th chưa thanh toán cho Ngân hàng Chính sách xã hội là 90.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn chưa thanh toán tạm tính đến ngày 05/12/2018 là 9.230.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (12/9/2019) là 15.109.709 đồng.

Sau khi vay số tiền 02 khoản vay nêu trên thì chị Th không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn và lãi vay theo đúng phân kỳ như các khế ước nợ đã ký với Ngân hàng A huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Nay đã quá thời hạn cho vay và thu hồi vốn, lãi theo phân kỳ nhưng bị đơn chị Trần Thị Minh Th và anh Trần H không thanh toán tiền vốn và lãi theo các khế ước vay tiền của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng A khởi kiện chị Th ra Tòa án để thu hồi tiền vốn vay và lãi để đảm bảo nguồn vốn vay nhằm thực hiện chính sách cho vay đối với các đối tượng chính sách xã hội theo chủ trương của Nhà nước tại địa phương.

Từ đó, các bên phát sinh tranh chấp.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với chị Th, anh H yêu cầu thanh toán số tiền vốn vay còn lại của 02 khoản là 90.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn đến thời điểm xét xử sơ thẩm hôm nay là 15.109.709 đồng. Căn cứ các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn nộp cho Tòa án như sổ vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội, người vay chị Trần Thị Minh Th; Các Giấy đề nghị vay vốn, kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 22/3/2017 và 30/3/2017 (bút lục số 03 đến 06) được Tòa án công khai chứng cứ và bị đơn không có ý kiến gì phản đối, các hồ sơ vay vốn thể hiện có chữ ký nhận số tiền vay của chị Trần Thị Minh Th. Nên Hội đồng xét xử, có đủ căn cứ xác định bị đơn chị Trần Thị Minh Th có vay của Ngân hàng A, chi nhánh phòng giao dịch huyện Châu Thành số tiền vốn vay của 02 khoản nêu trên còn nợ lại là 90.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn tính tạm tính đến ngày 05/12/2018 còn nợ lại là 9.230.000 đồng và đến ngày xét xử sơ thẩm là 15.109.709 đồng. Tổng số tiền vốn và lãi của 02 khoản vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 105.109.709 đồng.

Do đã quá thời hạn thanh toán số tiền vốn và tiền lãi vay, bị đơn chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H đã vi phạm tại điểm c mục 2.2 khoản 2 về quyền và nghĩa vụ của các bên quy định trong sổ vay vốn mà giữa hai bên thỏa thuận ký kết nên Ngân hàng A khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H là người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng được miễn nộp toàn bộ do thuộc đối tượng chính sách hộ nghèo, cận nghèo theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1./ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn chị Trần Thị Minh Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần H yêu cầu thanh toán tiền vốn và lãi vay, tổng số tiền là 105.109.709 đồng.

2./ Buộc chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn và lãi vay (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) cho Ngân hàng A là 105.109.709 đồng (Một trăm lẻ năm triệu, một trăm lẻ chín ngàn, bảy trăm lẻ chín đồng). Trong đó, tiền vốn vay là 90.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (12/9/2019) là 15.109.709 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 13/9/2019 chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định trong khế ước vay vốn tương ứng với từng khoản vay của từng kế ước vay mà giữa hai bên đã thỏa thuận, ký kết cho đến khi thi hành xong bản án.

3./ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H là người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng được miễn nộp toàn bộ do thuộc đối tượng chính sách hộ nghèo, cận nghèo theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

4./ Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự, thủ tục phúc thẩm. Đối với chị Trần Thị Minh Th, anh Trần H thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5./ Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/DS-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:24/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về