Bản án 24/2017/HSST ngày 09/11/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 24/2017/HSST NGÀY 09/11/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 09 tháng 11 năm 2017, tại Trường Trung học phổ thông huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Toà án nhân dân huyện Ngân Sơn xét xử công khai sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 21/2017/HSST, ngày 10 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Hứa Văn V, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1965 tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 6/10; Con ông Hứa Văn N (đã chết) và bà Trần Thị D, sinh năm 1935; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị T, sinh năm 1970 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2017 cho đến nay có mặt tạ phiên tòa.

*Người làm chứng:

- Anh Lý Đình Đ, sinh năm 1982 - Trú tại: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Cao Bằng (vắng mặt không có lý do).

- Anh Bàn Văn H, sinh năm 1974 - Trú tại: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng (Tòa án không triệu tập).

- Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1974 - Trú tại: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Cao Bằng (Tòa án không triệu tập).

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 19 giờ 35 phút ngày 08/6/2017, tại khu vực lò thuốc lá của gia đình V ở khu A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Hứa Văn V, sinh năm 1965, trú tại Khu A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi chuẩn bị bán trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm một gói nhỏ ma túy (hêrôin) có tổng trọng lượng 1,94 gram (một phẩy chín mươi tư gam) được gói bằng hai lớp nilông màu xanh.

Tại Cơ quan điều tra Hứa Văn V khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 06/6/2017, Lý Đình Đ, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Cao Bằng gọi điện cho bị cáo V hỏi mua năm phân ma túy với giá 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). V đồng ý rồi hẹn Đ đến. Sau đó V cầm một gói ma túy (hêrôin) ra khu vực lò thuốc lá của gia đình để bán cho Đ, nhưng chưa gặp Đ thì bị cáo bị bắt.

Ngoài ra, bị cáo còn khai nhận trước đó còn được bán ma túy hêrôin như sau:

- Vào khoảng tháng 12 (âm lịch) năm 2016, bị cáo được bán cho Đ một gói nhỏ ma túy (hêrôin) với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng);

- Bán cho Bàn Văn H, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng hai lần, lần thứ nhất vào khoảng 14 giờ ngày 11/02/2017 bán một gói nhỏ ma túy (hêrôin) với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), lần thứ hai vào khoảng 14 giờ ngày 16/02/2017 bán một gói nhỏ ma túy (hêrôin) với số tiền 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng), trong lần bán này, L đi cùng H, L góp 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) với Bàn Văn H và đi cùng H để mua ma túy về sử dụng.

Địa điểm   hai lần bán cho H đều ở gần nhà Và thuộc khu vực xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

Về nguồn gốc số ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ và để bán cho các đối tượng Lý Đình Đ, Bàn Văn H và Hoàng Văn L là do V mua với một người đàn ông tên T (không rõ họ, tên đệm) nhà ở huyện A, tỉnh Thái Nguyên. Và được mua hai lần, một lần mua 3.000.000đ (ba triệu đồng), một lần mua 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan chức năng đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 81/KTHS-MT, ngày 18/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Hêrôin. Tổng trọng lượng (khối lượng) số chất bột màu trắng thu giữ cửa Hứa Văn Và là 1,94gram (một phẩy chín mươi tư gam)”.

Tiến hành điều tra, xác minh: Lý Đình Đ, Bàn Văn H và Hoàng Văn L đều khai nhận được mua ma túy với Hứa Văn V như đã nêu trên.

Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn phù hợp các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 21/KSĐT-MT, ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Hứa Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hứa Văn V đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy đã lâu nên bị cáo Hứa Văn V đã đi mua ma túy (hêrôin) về để sử dụng cá nhân và bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy, cụ thể khoảng tháng 12 âm lịch năm 2016 cho Lý Đình Đ một lần được số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), ngày 11 và 16 tháng 02/2017 bán cho Bàn Văn H hai lần được số tiền là 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Tổng cộng bị cáo đã bán ma túy ba lầ và được tổng số tiền là 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng). Ngày 06/6/2017, khi bị cáo mang ma túy đến để bán cho Lý Đình Đ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Xét tính chất hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Như vậy có thể khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ni dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a)…

b) Phạm tội nhiều lần;

…”

*Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo lần đầu tiên phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, sau khi bị bắt bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó, do vậy bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và tự thú, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt chính, xét thấy cần phải buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù tại trại giam một thời gian nhất định. Qua đó mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và cộng đồng.

Ngoài ra, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5, Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

*Trong vụ án này còn có những vấn đề liên quan:

Đối với người đàn ông tên T (không rõ họ, tên đệm) nhà ở huyện A, tỉnh Thái Nguyên (theo lời khai của Và) là người bán ma túy (hêrôin) cho Và. Tuy nhiên, do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với Bàn Văn H, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng và Hoàng Văn L, sinh năm 1978, trú tại thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Cao Bằng là những người đã khai nhận được mua ma túy với bị cáo Và về với mục đích để sử dụng cá nhân và bị phát hiện bắt quả tang. Hiện nay, L và H đã bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 16/2017/HSST ngày 08/8/2017.

Đối với Lý Đình Đ, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Cao Bằng là người gọi điện thoại hẹn mua ma túy với bị cáo Hứa Văn V vào tối ngày 06/6/2017, nhưng Đ chưa gặp, chưa mua được ma túy nên không có cơ sở để xác định trọng lượng, hàm lượng ma túy để xử lý đối với Đ. Hành vi mua ma túy trước đó của Đ chỉ để sử dụng cá nhân không phải tội phạm nên không xem xét, xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động có gắn 01 sim điện thoại số 01654.246.186 mà Hứa Văn V dùng để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy. Quá trình điều tra không thu giữ được nên không xem xét, xử lý.

*Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Số ma túy và giấy gói cũ thu giữ của bị cáo xét cần tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, cần buộc bị cáo phải nộp lại cho nhà nước số tiền 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo bán ma túy mà có.

*Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hứa Văn V phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194, điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

1.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 07/6/2017 ;

1.2. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng và vấn đề khác: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy 1,90 gram (một phẩy chín mươi gam) ma túy và giấy gói cũ đựng trong một phong bì đã dán kín niêm phong thu giữ của bị cáo Hứa Văn V.

2.2. Buộc bị cáo phải nộp lại cho nhà nước số tiền 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo bán ma túy mà có. Việc thi hành án đối với khoản tiền này được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2017 giữa Công an huyện Ngân Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.


271
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2017/HSST ngày 09/11/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:24/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngân Sơn - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về