Bản án 241/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về ly hôn giữa chị Nh và anh T

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 241/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ NH VÀ ANH T

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm 9, xã Hải T, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Trần Trọng T, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm 9, xã Hải T, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị Nh có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2019 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Nh và anh Trần Trọng T, đăng ký kết hôn ngày 11-11-2016 tại UBND xã Hải T, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm 9, xã Hải T. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không tu trí làm ăn, ham chơi. Do không thể chung sống được nên chị Nh đã về nhà bố mẹ đẻ để ở, vợ chồng đã sống ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị Nh làm đơn xin ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên không đề nghị giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trần Trọng T đến Tòa án để làm việc và giao nhận các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt. Bà Hoàng Thị Anh là bác anh T đã nhận thay tất cả các văn bản tố tụng nêu trên và cam kết đã thông báo, giao cho anh T. Như vậy, anh T đã biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Nh và anh T nhưng anh T vẫn không có mặt, không thể hiện ý kiến của mình.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Trần Trọng T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Nh có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt; anh Trần Trọng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt chị Nh và anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Nh và anh Trần Trọng T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hải T, huyện HH, tỉnh Nam Định ngày 11-11-2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Nh và qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nh và anh T là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Mặt khác, anh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay, anh T không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Nh. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nh, cho chị Phạm Thị Nh được ly hôn anh Trần Trọng T là phù hợp.

[3] Về con chung: Hiện nay vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và công nợ: Chị Phạm Thị Nh trình bày vợ chồng không có tài sản và công nợ chung; anh Trần Trọng T cũng không có ý kiến gì về vấn đề tài sản chung và công nợ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Nh phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Nh và anh Trần Trọng T.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị Nh phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0000455 ngày 12-6-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, chị Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

290
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 241/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về ly hôn giữa chị Nh và anh T

Số hiệu:241/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hải Hậu - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về