Bản án 234/2018/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 234/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 758/2018/TLST- HNGĐ ngày 28/8/2018, về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 768/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1974 (có mặt)

Địa chỉ: Số 21, Mạc Đỉnh Chi, khóm 5, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Chị Trần Hồng M, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Hiện đang công tác tại: Bệnh Viện Đa khoa A, thuộc phường 7, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Anh Nguyễn Hữu T trình bày: Anh và chị Trần Hồng M kết hôn từ năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, thường hay cãi vã nhau, anh chị ly thân đã lâu. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên anh yêu cầu tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị M.

Về con chung: Có con chung tên Nguyễn Trần Hữu T1, sinh ngày 02/8/2005, hiện đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

* Chị Trần Hồng M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M thừa nhận thời gian kết hôn như anh T trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, anh chị sống ly thân đã lâu, nay anh T xin ly hôn thì chị M đồng ý.

Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Trần Hữu T1, sinh ngày 02/8/2005. Chị M yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về phần hôn nhân: Anh T và chị M chung sống với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau đúng theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận anh chị là vợ chồng.

[2] Do có phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống không giống nhau nên anh chị đã không còn sống chung một nhà. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa anh T và chị M có mâu thuẫn là thực tế, cả hai anh chị đều không có hướng khắc phục được nên anh chị không thể hàn gắn được mối quan hệ vợ chồng của anh chị, do đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó anh T yêu cầu xin ly hôn chị M cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là phù hợp.

[3] Trong thời gian chung sống anh T và chị M có một người con chung tên Nguyễn Trần Hữu T1, sinh ngày 02/8/2005, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn anh T và chị M đều có yêu cầu xin nuôi con. Xét yêu cầu xin nuôi con của anh chị Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T1 sinh năm 2005 hiện tại đã lớn và nhận thức được nguyện vọng của cháu. Ngày 11/10/2018, khi Tòa án ghi ý kiến của cháu T1 có sự chứng kiến của chị M thì cháu T1 xin được ở với mẹ nhưng ngày 07/11/2018, Anh T yêu cầu Tòa án ghi ý kiến của cháu T1 có sự chứng kiến của anh T thì cháu T1 lại xác định là xin được sống với cha. Điều đó cho thấy tư tưởng cháu T1 dễ bị giao động, dễ bị thay đổi nên để trách việc xáo trộn tâm lý của cháu nên cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền tới thăm nom, chăm sóc, không ai được quyền cản trở.

[4] Tài sản chung anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nợ chung: anh chị xác định không có.

[5] Án phí dân sự về Hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu theo quyđịnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu T về việc xin ly hôn chị Trần Hồng M.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Hữu T1, sinh ngày 02/8/2005 (hiện đang sống chung với anh T) cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, anh Nguyễn Hữu T phải nộp, ngày 28/8/2018, anh T có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0001256 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 234/2018/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:234/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về