Bản án 233/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 233/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 18 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số167/2017/HSST ngày 19/6/2017, đối với bị cáo:

LÂM HUỲNH MINH TR; sinh năm: 1986; tại Thành phố H; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; thường trú: Số A đường B, khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông: Lâm Văn M (1964) và bà: Huỳnh Ngọc A (1962); vợ Võ Thị Kim N (1989); con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 13/5/2011 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, ngày 23/7/2012 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/7/2016. (Có mặt).

Người bị hại: Anh Ngô Văn X, sinh năm 1974 ( Có mặt)

Địa chỉ: Số A đường B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lâm Huỳnh Minh Tr bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/6/2016, Lâm Huỳnh Minh Tr ngồi nhậu với bạn tại quán “Bia S” trên đường B, phường L, quận T, TP. Hồ Chí Minh. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, có anh Ngô Văn X gọi điện thoại cho Tr nói “Mày là ai mà sao gọi điện thoại vào số máy của vợ tao” thì Tr trả lời “Tao không biết vợ mày là ai và tao cũng không biết mày là ai”, anh X nói tiếp “Tao là Tý B đây muốn gì thì ra cây xăng chợ T nói chuyện”. Sau khi nghe điện thoại xong, Tr rủ L đi tìm anh X nên L ra mở cốp xe Wave (không rõ biển số) của L đưa cho Tr 02 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 60 cm, L điều khiển xe mô tô Wave chở Tr đến cây xăng địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, L dừng xe đứng ở ngoài còn Tr cầm 02 con dao trên hai tay xông vào cây xăng gặp anh X và hỏi “Ai là thằng Tý B”, anh X trả lời “Tao là Tý B đây”. Tr cầm 02 con dao tự chế chém vào người anh X, anh X đưa hai tay lên đỡ thì bị trúng vào hai cẳng tay làm 01 con dao bên tay phải của Tr cầm bị rơi xuống đất. Tr tiếp tục dùng con dao tự chế còn lại đang cầm trên tay trái chém một nhát vào đầu anh X làm anh X ngã xuống đường, Tr chém tiếp một nhát vào lưng anh X. Sau đó Tr lên xe cho L chở tẩu thoát và vứt con dao ở bụi cây gần ao cá B thuộc khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi anh X bị Trí chém thì được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện quận T.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 467/TgT.16 ngày 14/7/2016 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tật đối với anh Ngô Văn X:

Vết thương vùng trán đỉnh, lệch phải gây đứt da, mẻ bản sọ ngoài dài 5,5 cm, đã được khâu vết thương, hiện còn sẹo kích thước 8 x 0,2 cm. Tỷ lệ thương tích là 11%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động mạnh gây ra.

- Hai vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn:

+ 01 sẹo kích thước 3,4 x 0,2 cm tại vùng thắt lưng mông trái. Tỷ lệ thương tích 2%.

+ 01 sẹo kích thước 2,4 x 0,1cm tại sau khuỷu tay trái. Tỷ lệ thương tích 2%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắt gây ra.

- Vết thương 1/3 dưới cẳng tay phải, gây đứt da, mẻ 1/3 dưới thân xương trụ, đã được khâu vết thương, hiện còn sẹo kích thước 2,3 x 0,1cm tại cẳng tay phải. Tỷ lệ thương tích là 3%.

Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra

-Tổng tỷ lệ thương tích là 17%. Vật chứng vụ án:

- 02 con dao tự chế dài khoảng 60cm do Lâm Huỳnh Minh Tr gây thương tích cho anh Ngô Văn X. Sau khi gây án Tr đã vứt bỏ nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm Dân sự:

- Anh Ngô Văn X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 82.503.000 đồng. Trong đó: 6.503.000 đồng có hóa đơn chứng từ và 76.000.000 đồng không có hóa đơn.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 07/12/2016, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, bị cáo đã đã khai nhận: Vào ngày 07/6/2016, giữa bị cáo và anh X có gọi điện chửi, thách thức nhau và gặp nhau tại cây xăng do anh X ghen tuông. Tuy nhiên bị cáo không thừa nhận đã gây thương tích cho anh X mà thương tích trên do người bên phía của anh X gây ra. Trong quá trình điều tra đã được điểu tra viên hướng dẫn bị cáo khai theo kết luận giám định. Bị cáo không thừa nhận đã gây ra thương tích cho anh X nên không ý bồi thường cho anh Xvà không thừa nhận nội dung Bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lâm Huỳnh Minh Tr phạm tội tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng  khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù. Ngoài ra về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại đúng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vị phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị cáo (Bút lục: 22 đến 29) và bản tự khai, bản tường trình ( Bút lục:  42,43, 47); Lời khai của người bị hại ( Bút lục 30 đến 35 và 45, 46); Lời khai của người làm chứng (Bút lục 36 đến 41 và 47); Biên bản nhận dạng và Kết luận giám định thương tích; Kết quả điều tra bổ sung cũng như lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 07/6/2016, tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Huỳnh Minh Tr đã thực hiện hành vi sử dụng 02 con dao tự chế dài 60 cm bằng kim loại gây thương tích 17% cho anh Ngô Văn X. Hành vi của Lâm Huỳnh Minh Tr đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự. Tại bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ.

Tội phạm mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những đã cố ý xâm phạm sức khỏe của ngưới khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Chỉ vì xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày, bị cáo đã sử dụng 02 con dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 17% tạm thời. Trong các vết thương mà bị cáo đã gây ra, có vết thương vùng trán đỉnh, là nơi yếu hiểm có thể dẫn đến chết người. Hành vi của bị cáo thể hiện sự hung hãn, xem thường pháp luật, kỷ cương của Nhà nước. Bên cạnh đó cũng xem xét bản thân bị cáo sau khi phạm tội không ăn năn hối cải đã thể hiện ý thức xém thường pháp luật của bị cáo. Trong vụ án này, khi bị cáo chém bị hại đã ngã xuống đường, không thể tự vệ được nhưng bị cáo tiếp tục lao vào chém người bị hại đã thể hiện cố tình thực hiện tội phạm đến cùng đây cũng là tính tiết tăng nặng được quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.  Xét nhân thân của bị cáo đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân và chấp hành pháp luật Nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bản thân bị cáo hiện nay là lao động chính trong gia đình nuôi 05 con còn nhỏ nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này còn có đối tượng tên L, có dấu hiệu đồng phạm trong vụ án nhưng chưa xác định được lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã vứt bỏ 02 con dao tự chế dài khoảng 60 cm ở bụi cây gần ao cá B thuộc khu phố C, phường T, quận T nên chưa thu hồi được. Trong quá trình điều tra Công an quận Thủ Đức đã thông báo truy tìm vật chứng, khi nào thu hồi được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Ngô Văn X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 82.503.000 đồng. Trong đó tiền thuốc có hóa đơn chứng từ là 6.503.000 đồng; tiền không có hóa đơn chúng từ là 76.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Qua đó Hội đồng xét xử cần tuyên buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại các khoản sau: Tiền thuốc có hóa đơn chứng từ 6.503.000 đồng; tiền xe đi lại cấp cấp, chữa trị là 5.000.000 đồng; tiền thu nhập mất đi trong thời gian chữa trị và phục hồi sức khỏe 15.000.000 đồng (Thu nhập lao động bình quân là 10.000.000 đồng/tháng); tiền tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng. Tổng cộng là 41.503.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Lâm Huỳnh Minh Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 104, điểm e khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Lâm Huỳnh Minh Tr 02 (hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2016.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự,

Buộc bị cáo Lâm Huỳnh Minh Tr có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Văn X số tiền 41.503.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm lẽ ba ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn xin thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả tiền, thì người phải thi hành án phải trả lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền là 10%/năm và theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.075.000 đồng (hai triệu không trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).


77
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 233/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội cố ý gây thương tích

    Số hiệu:233/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:18/07/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về