Bản án 23/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 23/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2020/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1982; cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Tuyết X, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 24 tháng 4 năm 2020 anh Nguyễn Trường G trình bày: Anh và chị Nguyễn Tuyết X kết hôn với nhau năm 2012, trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm thương yêu chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn kéo dài mặt dù đã hàn gắn tuy nhiên không mang lại kết quả, hiện nay anh và chị Nguyễn Tuyết X đã sống ly thân với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Tuyết X.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Tuyết X không có con con chung nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 anh Nguyễn Trường G có đơn yêu cầu xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh xác định hiện nay vì điều kiện công việc nên anh đề nghị xin Tòa án được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày và không khiếu nại về việc vắng mặt của mình.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Chị Nguyễn Tuyết X có mặt chị xác định:

Về hôn nhân chị và anh Nguyễn Trường G kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã T, huyện N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời giang gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặt dù đã hàn gắn tuy nhiên không mang lại kết quả. Hiện nay chị và anh G đã sống ly thân với nhau, xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị đồng ý ly hôn cùng anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Trường G không có con con chung nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn anh Nguyễn Trường G và bị đơn chị Nguyễn Tuyết X Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Nguyễn Trường G có đơn đề nghị xin vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trường G tại phiên tòa.

[3] Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Trường G và chị Nguyễn Tuyết X được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó hôn nhân giữa anh Nguyễn Trường G và chị Nguyễn Tuyết X được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng mặt dù đã được hàn gắn tuy nhiên vẫn không mang lại kết quả, hiện nay anh G và chị X đã sống ly thân với nhau. Xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa anh G và chị Xuân thực tế phát phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến ngày xét xử anh G và chị X vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên Tòa ngày hôm nay chị X có mặt chị đồng ý ly hôn cùng anh G do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trường G đối với chị Nguyễn Tuyết X.

[4] Về con chung: Anh Nguyễn Trường G và chị Nguyễn Tuyết X không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì anh Nguyễn Trường G phải nộp 300.000 đồng. Anh G đã dự nộp 300.000 đồng được chuyển thu.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trường G tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trường G đối với chị Nguyễn Tuyết X.

Về con chung: Anh Nguyễn Trường G và chị Nguyễn Tuyết X không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Nguyễn Trường G phải nộp 300.000 đồng. Anh Nguyễn Trường G đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006130 ngày 24/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ. 


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:23/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về