Bản án 23/2020/HNGĐ-ST ngày 19/06/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 23/2020/HNGĐ-ST NGÀY 19/06/2020 VỀ LY HÔN

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 114/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020, về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1976. (xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Anh Lê Văn A, sinh năm 1976. (xin xét xử vắng mặt)

Cùng trú tại: Tổ 29, khu phố Thắng L, thị trấn Tân Ph, H. Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Lê Văn A tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã nói chuyện để cùng nhau sửa chữa để gia đình được hạnh phúc nhưng anh A không thay đổi, không quan tâm đến vợ con. Nay xác định tình cảm dành cho anh Lê Văn A thực sự đã hết, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn A.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Do các con đã trưởng thành nên Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Chị L không yêu cầu gì thêm.

* Tại bản tự khai ngày 28/5/2020, bị đơn anh Lê Văn A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh A và chị Trần Thị L tự nguyện chung sống từ năm 1998, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống vợ chồng không có sự đồng cảm với nhau vì vậy hay xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nặng lời. Nay nhận thấy vợ chồng không chung sống với nhau được nữa nên vợ chồng quyết định ly hôn, do đó anh A đồng ý ly hôn với chị L, mong Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị L.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận nhiều công việc nên anh A đề nghị xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Mọi ý kiến anh đã trình bày tại bản tự khai và không bổ sung, không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn do nguyên đơn Trần Thị L thực hiện quyền khởi kiện. Bị đơn Lê Văn A có hộ khẩu thường trú tại tổ 29, khu phố Thắng L, thị trấn Tân Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt nguyên đơn Trần Thị L và bị đơn anh Lê Văn A.

[3] Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị L và anh Lê Văn A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn Tân Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước vào năm 1998. Xét thấy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình đã quy định nên được pháp luật bảo vệ. Chị L và anh A đều thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có sự cảm thông nhau nên xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi vã. Nguyên nhân do vợ chồng luôn bất đồng đến quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không có sự quan tâm, chia sẻ cảm thông cho nhau làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm vợ chồng và hạnh phúc gia đình. Nay đôi bên đều xác định tình cảm thực sự đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, tuyên xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Lê Văn A là phù hợp và có căn cứ.

[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các bên đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thị L phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147; 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Lê Văn A.

2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004025, quyển số 0081 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương theo luật định.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST ngày 19/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:23/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đồng Phú - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về