Bản án 23/2019/HS-ST ngày 18/06/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 23/2019/HS-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 18-6-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Hoàng Bảo Ch, sinh năm 1982;

Tên gọi khác: Bảo T

Nơi ĐKHKTT: ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: ấp CS, xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: nuôi thủy sản; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Th (chết) và bà Lý Lệ Th (chết); có 03 anh chị em ruột lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1982; Vợ, con không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2019 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

1. Anh Lâm Thanh H (Đ), sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh

2. Anh Diệp Vũ Kh, sinh ngày 09/4/2002 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã Đ, huyện DH, tỉnh Trà Vinh

3. Anh Kim Hoài B, sinh năm 1995 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

4. Anh Dương S, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

5. Chị Hứa Thị Minh Th, sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã TS, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

6. Anh Dương Đình D, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh

7. Anh Thạch Sa R, sinh năm 2001 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp TT, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/01/2019, Lâm Thanh H điều khiển xe mô tô chở Dương Đình D đi đến chòi nuôi trồng thủy sản của bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch ở ấp C, xã H, huyện T để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H và D đến gặp bị cáo Ch, H mua của bị cáo Ch 01 gói ma túy với giá 300.000đ. Bị cáo Ch đồng ý và lấy một gói ma túy để trong ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu đưa trực tiếp cho H, nhận ma túy H trả tiền cho bị cáo Ch loại giấy bạc có mệnh giá là 500.000đ, bị cáo Ch lấy tiền bỏ vào túi quần treo trên cột nhà và thối lại cho H 200.000đ thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, tạm giữ những đồ vật, tài sản sau:

+ 01 gói nhựa màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể của bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch.

+ 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể, cùng với tiền mặt 200.000đ của Lâm Thanh H.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra tiến hành ra Lệnh khám xét khẩn cấp chổ ở của bị cáo Châu, thu giữ được những đồ vật sau:

+ 01 bình thủy tinh, có chiều cao 18cm, bên trên nắp bình có gắn 01 ống thủy tinh có chiều cao 04cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, có chiều dài 34cm.

+ 03 ống thủy tinh, có kích thước mỗi ống bằng nhau và có chiều dài 14cm.

+ 09 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, có kích thước mỗi ống bằng nhau và có chiều dài là 24cm.

+ 01 gói nhựa màu trắng, viền đỏ, có kích thước 11cm x 7cm; bên trong gói nhựa có 73 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước mỗi gói bằng nhau là 5cm x 3cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, kí hiệu SN, có chiều dài là 14.5cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, dạng gấp khúc, có chiều dài là 17cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, có chiều dài là 10.5cm.

+ 03 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước mỗi gói bằng nhau là 3cm x 2cm.

+ 01 gói nhựa màu trắng, viền xanh lá cây, có kích thước là 3 x 0.5cm.

+ 01 vỏ thuốc lá YET, có kích thước 8.8cm x 5.8cm; bên trong vỏ thuốc có 06 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài bằng nhau là 03cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài là 02cm.

+ 01 ống thủy tinh, hình dạng hoa văn, có chiều cao 04cm.

+ 01 điện thoại di động OPPO, màu đen, viền bạc, đã qua sử dụng; IMEI1: 863008036720976, IMEI2: 863008036720968, số sêri: ec21d2d7, kèm theo 02 sim số, sim số 1: 0977722230 và sim số 2: 0918088887 và tiền mặt: 500.000đ.

Căn cứ vào Bản kết luận giám định số: 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nhựa được niêm phong trong phong bì (ký hiệu A), gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4008 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì (ký hiệu B), gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0434 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra đã chứng minh được thời gian từ đầu tháng 10/2018 đến khi bị cáo Châu bị bắt quả tang ngày 22/01/2019, bị cáo Châu còn trực tiếp bán ma túy tại chòi nuôi trồng thủy sản của bị cáo tại ấp CS, xã H, huyện T cho các đối tượng như sau:

1. Bán cho Lâm Thanh H 01 lần vào chiều ngày 18/01/2019, H mua 01 gói ma túy giá 400.000 đồng, sau khi mua được Hiền đem về nhà sử dụng.

2. Bán cho Diệp Vũ Kh hai lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Vào đầu tháng 11 năm 2018, Kha mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Kha đem về nhà một mình sử dụng.

- Lần thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 12 năm 2018, Kh tiếp tục mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Kh đem về nhà sử dụng.

3/ Bán cho Kim Hoài B 04 lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 10 năm 2018, B mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Nơi giao ma túy là bờ kênh gần chòi của bị cáo Ch.

- Lần thứ hai: Khoảng cuối tháng 10 năm 2018, B tiếp tục mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B đem về nhà sử dụng.

- Lần thứ ba: Khoảng cuối tháng 11 năm 2018, B tiếp tục mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Nơi giao ma túy là bờ kênh gần chòi của bị cáo.

- Lần thứ tư: Khoảng đầu tháng 01 năm 2019, B tiếp tục mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B đem về nhà một mình sử dụng.

4/ Bán cho Nguyễn Văn A 01 lần khoảng đầu tháng 12 năm 2018 A mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng về sử dụng.

5/ Bán cho Dương S 01 lần vào đầu tháng 01 năm 2019, S mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, bị cáo Ch hẹn S gặp tại bờ kênh thuộc ấp CS, xã H để giao ma túy. Sau khi nhận ma túy xong S đem về sử dụng.

6/ Bán cho người tên L ở xã H không rõ họ tên và địa chỉ 01 lần vào khoảng đầu tháng 01 năm 2019, người tên L mua của 01 gói ma túy giá 200.000 đồng, bị cáo Châu đồng ý bán và giao ma túy cho người tên L tại chòi của Ch.

Qua điều tra, đã chứng minh được bị cáo Ch bán trái phép chất ma túy cho 06 người, tổng cộng 11 lần với số lượng 11 gói ma túy, với số tiền thu được là 3.000.000 đồng. Số tiền bán ma túy có được bị cáo Ch tiêu xài cá nhân, còn lại 500.000 đồng bị Cơ quan Công an tạm giữ.

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSTC ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo thừa nhận những lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai nhận cũng như toàn bộ nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú mô tả về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là hoàn toàn đúng, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú: Sau khi phân tích các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 

Tuyên phạt bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2019.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Trà Cú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch thừa nhận vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 22/01/2019 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Lâm Thanh H 01 gói ma túy đá có khối lượng 0,0434 gam loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng tại chòi nuôi thủy sản của bị cáo ở ấp C S, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn chứng minh được thời gian từ đầu tháng 10 năm 2018 đến khi bị cáo Ch bị bắt quả tang vào ngày 22/01/2019. Bị cáo Ch đã bán trái phép chất ma túy 10 lần, với số lượng là 10 gói ma túy cho 06 người. Tổng số tiền bán ma túy trong những lần này mà Trần Hoàng Bảo Ch thu được là 3.000.000đ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung làm băng hoại đạo đức và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, gây xôn xao dư luận, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chính vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch về tội“Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch chưa có tiền án, tiền sự, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có nhận thức xã hội. Mặc dù, biết rõ pháp luật của Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy và xử phạt rất nghiêm khắc loại tội phạm về ma tuý nhưng do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên cố tình mua ma túy phục vụ nhu cầu của bản thân và bán lại cho các người nghiện khác kiếm lời đều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện và cần áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm mục đích răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện có ích cho xã hội.

Bản thân bị cáo Trần Hoàng Bảo Châu sau khi được dì ruột tên Lý Lệ H định cư ở nước ngoài để lại cho bị cáo Ch khu đất và căn chòi tại ấp CS, xã H, huyện T, để nuôi trồng thủy sản nhưng bị cáo Ch sử dụng không đúng mục đích mà làm nơi cất giấu ma túy, bán trái phép chất ma túy, việc làm của Ch bà H hoàn toàn không biết. Do đó, không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà H.

Đối với người tên “Lợi” bị cáo Ch khai nhận là người đã bán trái phép chất ma túy cho Ch tại khu vực gần cổng bệnh viện Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng do bị cáo Ch khai không rõ họ, năm sinh, địa chỉ cụ thể nên không mời được để làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với người tên L ở xã H có mua ma túy của bị cáo Ch 01 lần nhưng do bị cáo không biết rõ họ, năm sinh và địa chỉ cụ thể nên không mời được để làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Lâm Thanh H là người mua ma túy của bị cáo Ch, có khối lượng 0,0434 gam loại Methamphetamine để sử dụng, có trọng lượng dưới 0,1 gam và nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Về nhân thân H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi của H không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nhưng hành vi của H đã vi phạm vào điểm a khoản 2 Điều 21 và khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Do hiện nay Lâm Thanh H đã bỏ địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên chưa xử lý được, khi nào mời được xử lý sau.

Ngoài ra, đối với Nguyễn Văn A và Diệp Vũ Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính Phủ. Công an huyện Trà Cú ra quyết định xử phạt hành chính đối với A 750.000 đồng, Diệp Vũ Kh chưa đủ 18 tuổi nên bị xử phạt với số tiền là 375.000 đồng. Riêng, đối tượng Kim Hoài B và Dương S hiện nay đã bỏ địa phương đi không rõ địa chỉ cụ thể nên chưa xử phạt hành chính được. Khi nào các đối tượng về địa phương tiến hành mời làm việc, xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiền dùng vào việc phạm tội gồm:

+ 01 gói niêm phong màu trắng đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long niêm phong mẫu vật số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019, kí hiệu A, có ký tên của người chứng kiến Lưu Thanh Nhanh và giám định viên Nguyễn Hữu Dự.

+ 01 gói gói niêm phong màu trắng đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long niêm phong mẫu vật số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019, kí hiệu B, có ký tên của người chứng kiến Lưu Thanh Nhanh và giám định viên Nguyễn Hữu Dự.

+ 01 bình thủy tinh, có chiều cao 18cm, bên trên nắp bình có gắn 01 ống thủy tinh có chiều cao 04cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, có chiều dài 34cm.

+ 03 ống thủy tinh, có kích thước mỗi ống bằng nhau và có chiều dài 14cm.

+ 09 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, kích thước bằng nhau và có chiều dài là 24cm.

+ 01 gói nhựa màu trắng, viền đỏ, có kích thước 11cm x 7cm; bên trong gói nhựa có 73 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước mỗi gói bằng nhau là 5cm x 3cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, kí hiệu SN, có chiều dài là 14.5cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, dạng gấp khúc, có chiều dài là 17cm.

+ 01 cây kéo bằng kim loại, có chiều dài là 10.5cm.

+ 03 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước mỗi gói bằng nhau là 3cm x 2cm.

+ 01 gói nhựa màu trắng, viền xanh lá cây, có kích thước là 3 x 0.5cm.

+ 01 vỏ thuốc lá YET, có kích thước 8.8cm x 5.8cm; bên trong vỏ thuốc có 06 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài bằng nhau là 03cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài là 02cm.

+ 01 ống thủy tinh, hình dạng hoa văn, có chiều cao 04cm.

- Đối với 01 điện thoại di động OPPO, màu đen, viền bạc, đã qua sử dụng; IMEI1: 863008036720976, IMEI2: 863008036720968, số sêri: ec21d2d7, kèm theo 02 sim số, sim số 1: 0977722230 và sim số 2: 0918088887 xác định bị cáo không dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy nên hoàn trả lại cho bị cáo.

- Quá trình điều tra, đã chứng minh được bị cáo Ch bán trái phép chất ma túy cho 06 người, tổng cộng 11 lần, số lượng 11 gói ma túy với số tiền thu được là 3.000.000 đồng. Số tiền bán ma túy có được bị cáo Ch tiêu xài cá nhân, còn lại 500.000 đồng bị Cơ quan Công an thu giữ được xác định là tiền bị cáo có được do bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Truy thu thêm số tiền 2.500.000đ khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long niêm phong mẫu vật hoàn trả số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019, kí hiệu A, có bốn con dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký và tên của bên giao giám định viên Nguyễn

Hữu Dự , bên nhận Lưu Thanh Nhanh; 01 gói niêm phong màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long niêm phong mẫu vật số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019, kí hiệu B, có bốn con dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký và tên của bên giao giám định viên Nguyễn Hữu Dự, bên nhận Lưu Thanh Nhanh; 01 bình thủy tinh, có chiều cao 18cm, bên trên nắp bình có gắn 01 ống thủy tinh có chiều cao 04cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, có chiều dài 34cm; 03 ống thủy tinh, có kích thước bằng nhau và có chiều dài bằng nhau là 14cm; 09 ống hút bằng nhựa, màu trắng, dạng lò xo, kích thước bằng nhau và có chiều dài là 24cm; 01 gói nhựa màu trắng, viền đỏ, có kích thước 11cm x 7cm; bên trong gói nhựa có 73 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước bằng nhau là 5cm x 3cm; 01 cây kéo bằng kim loại, kí hiệu SN, có chiều dài là 14.5cm; 01 cây kéo bằng kim loại, dạng gấp khúc, có chiều dài là 17cm; 01 cây kéo bằng kim loại, có chiều dài là 10.5cm; 03 gói nhựa màu trắng, viền xanh dương, có kích thước bằng nhau là 3cm x 2cm; 01 gói nhựa màu trắng, viền xanh lá cây, có kích thước là 3cm x 0.5cm; 01 vỏ gói thuốc lá YET, kích thước 8.8 cm x 5.8cm; bên trong vỏ thuốc có 06 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài bằng nhau là 03cm và 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng, có chiều dài là 02cm; 01 ống thủy tinh, hình dạng hoa văn, có chiều cao 04cm.

- Hoàn trả cho bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, viền bạc, đã qua sử dụng; số IMEI 1: 863008036720976, IMEI 2: 863008036720968, số sêri: ec21d2d7, kèm theo 02 sim số, sim số 01: 0977722230 và sim số 02: 0918088887. (Vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú quản lý).

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008572 ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Buộc bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch nộp vào ngân sách nhà nước tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Hoàng Bảo Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về