Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 23/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2019/TLST-DS ngày 06 tháng 03 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lỳ Y V, sinh năm 1986. Địa chỉ: bản T, xã H, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Có mặt;

- Bị đơn: Anh Lầu Bá L, sinh năm 1986; Địa chỉ: bản T, xã H, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt vì lý do hiện đang thi hành án phạt tù tại: Đội 24, phân trại số 2, Trại giam B, huyện TK, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 01 năm 2019 và biên bản lấy lời khai thì nguyên đơn Lỳ Y V trình bày: Chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L chung sống với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện từ năm 2005 đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn, khi mới chung sống hai bên hạnh phúc nhưng đến năm 2015 anh Lầu Bá L nghiện ma túy không quan tâm đến gia đình, vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi cọ, chửi bới xúc phạm lẫn nhau. Đến tháng 12/2015 anh Lầu Bá L bị bắt về hành vi mua bán ma túy, bị tòa án tỉnh Nghệ An kết án 15 năm tù. Thấy rằng tình cảm giữa chị và anh Lầu Bá L không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lầu Bá L.

Về con: Chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L có 02 (hai) con chung là cháu Lầu Y N, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lầu Bá H, sinh ngày 05/5/2014. Nay nếu ly hôn chị yêu cầu được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh Lầu Bá L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và các khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ và được anh Lầu Bá L cung cấp bản tự khai như sau: Anh Lầu Bá L và chị Lỳ Y V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 không có đăng ký kết hôn, từ khi chung sống cho đến nay chưa có mâu thuẫn gì, năm 2015 anh bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An kết án 15 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Anh Lầu Bá L cho rằng tình cảm của anh và chị Lỳ Y V đang còn nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: anh và chị Lỳ Y V có hai con chung là cháu Lầu Y N, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lầu Bá H, sinh ngày 05/5/2014, anh Lầu Bá L có nguyện vọng nuôi cả hai con. Về tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về các khoản nợ anh Lầu Bá L cho rằng hiện vợ chồng đang nợ chị gái của anh là Lầu Y M (Địa chỉ: bản T, xã H, huyện KS, tỉnh Nghệ An) số tiền 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng), anh đề nghị Tòa án phân chia trách nhiệm trả nợ cho cả hai vợ chồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ, thể hiện quan điểm của mình trước các yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình: Tuyên bố chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L không phải là vợ chồng; về con: Giao hai con chung là cháu Lầu Y N, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lầu Bá H, sinh ngày 05/5/2014 cho chị Lỳ Y V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Lầu Bá L; về tài sản: Chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; về án phí: do chị nguyên đơn là hộ nghèo thuộc đối tượng được miễn án phí nên đề nghị miễn án phí cho chị Lỳ Y V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ tài liệu và lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Lỳ Y V yêu cầu ly hôn với anh Lầu Bá L có hộ khẩu thường trú tại bản T, xã H, huyện KS, tỉnh Nghệ An, nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn anh Lầu Bá L hiện đang chấp hành án phạt tù dài hạn tại Trại giam số 3 Bộ Công an nên không thể có mặt tại phiên tòa. Tòa án đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cần thiết cho anh Lầu Bá L và tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về hôn nhân: Chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L tổ chức đám cưới và sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2005 nhưng không đăng ký kết hôn. Theo quy định của pháp luật thì hai bên đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng đến thời điểm xin ly hôn giữa chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L vẫn không đăng ký kết hôn do đó trong mỗi quan hệ giữa Lỳ Y V và anh Lầu Bá L không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay có bên yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15 khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L.

[3] Về con chung: Chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L có hai con chung cháu Lầu Y N, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lầu Bá H, sinh ngày 05/5/2014. Quá trình giải quyết vụ án hai bên đương sự đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Thấy rằng 02 cháu Lầu Y N và Lầu Bá H hiện đang còn nhỏ (dưới 07 tuổi), xét về điều kiện, hoàn cảnh thì chị Lỳ Y V có điều kiện chăm sóc tốt hơn vì hiện nay anh Lầu Bá L đang chấp hành án với mức án 15 năm tù không có điều kiện chăm sóc giáo dục con, vì vậy cần giao 02 con chung cho chị Lỳ Y V trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận việc không yêu cầu anh Lầu Bá L cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về các khoản nợ: Bị đơn anh Lầu Bá L cho rằng hiện vợ chồng đang nợ chị gái của anh là Lầu Y Mải (Địa chỉ: bản T, xã H, huyện KS, tỉnh Nghệ An) số tiền 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng), anh đề nghị Tòa án phân chia trách nhiệm trả nợ cho cả hai vợ chồng. Tuy nhiên quá trình giải quyết phía nguyên đơn chị Lỳ Y V không thừa nhận có khoản nợ này. Tòa án cũng đã tiến hành triệu tập chị Lầu Y Mải để điều tra, xác minh nhưng hiện chị Lầu Y Mải không có mặt tại địa phương nên không tiến hành lấy lời khai được. Vì vậy yêu cầu của anh Lầu Bá L không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này. Sau này khi có đủ các điều kiện thì các bên có thể khởi kiện đòi lại tài sản bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: Đây là vụ án về Hôn nhân gia đình, chị Lỳ Y V là nguyên đơn đáng ra là bên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên do gia đình chị Lỳ Y V thuộc hộ nghèo nên là đối tượng được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L là quan hệ vợ chồng. Buộc chị Lỳ Y V và anh Lầu Bá L chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng kể từ ngày tuyên án.

- Về con cái: Giao hai con chung là cháu Lầu Y N, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lầu Bá H, sinh ngày 05/5/2014 cho chị Lỳ Y V trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lầu Bá L.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lỳ Y V.

- Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:23/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kỳ Sơn - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về