Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 26/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 23/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Th - Sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị Th và anh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Th trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức vào năm 2011 và được UBND xã Hà Bắc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C hay bỏ đi nên thường xuyên cãi chửi nhau. Mâu thuẫn càng trầm trọng nên đến tháng 02/2013 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở được 02 tháng anh C đến xin lỗi chị lại về, sau đó vợ chồng vào miền nam làm ăn nhưng vẫn cải nhau, đến tháng 6/2013 do không chịu đựng được nên chị đã bế con về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau, chưa một lần anh đến thăm con. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 29/6/2012.

Hiện nay cháu khỏe mạnh và đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ng và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con cùng chị và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung đã triệu tập anh C và đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng liên quan theo đúng quy định đối với anh Nguyễn Văn C (gia đình anh C đã nhận giấy tờ và cam kết sẽ giao lại văn bản tố tụng cho anh C) nhưng anh C không đến làm việc nên không có lời khai để thể hiện nguyện vọng của anh C.

* Theo ông Nguyễn Quốc Ch là bố đẻ của anh C cho biết: Anh C và chị Th kết hôn năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Bắc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính cách nên hay cải nhau. Chị Th và anh C đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay và cũng từ đó chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Vợ chồng có 01 con chung, hiện nay cháu đang ở với chị Th. Hiện tại anh C làm C nhân và vẫn ở thôn Song Nga, xã Hà Bắc nhưng vì C việc nên 5 đến 7 ngày mới về một lần, vợ chồng anh chị không có tài sản chung, do anh C đi làm nên không đến Tòa án làm việc được, mọi văn bản giấy tờ giao cho gia đình và anh đã nhận lại. Ông Ch cho biết quan điểm của anh C là đồng ý ly hôn, đồng ý giao con cho chị Th nuôi, anh không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th, anh không đề nghị Toà án giải quyết về tài sản.

* Toà án nhân dân huyện Hà Trung đã tiến hành xác minh tại xã Hà Bắc, theo thông tin cung cấp thì được biết: Chị Th và anh C là vợ chồng, trong quá trình sinh sống anh chị thường xuyên mâu thuẫn cải chửi nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, vợ chồng có 01 con chung đang ở với mẹ, anh C hiện làm C nhân đi làm 5 đến 7 ngày mới về và vẫn đang sinh sống tại thôn Song Nga, xã Hà Bắc. Chị Th hiện về nhà bố mẹ ở xã Hà Yên sinh sống, thỉnh thoảng vẫn đưa con lên thăm gia đình nội, cháu vẫn khỏe mạnh phát triển tốt.

Do chị Th có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên Toà, Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn của chị Th, xử cho ly hôn giữa chị Th và anh C, về con chung giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo Ng cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa hôm nay chị Th giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, các bên không thỏa thuận với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Văn C không có mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục và phiên tòa cũng được hoãn lần thứ nhất. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt chị Th và anh C.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Văn C kết hôn năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.Theo chị Th vợ chồng chung sống đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi chửi nhau, anh C hay bỏ đi và từ tháng 6/2013 đến nay vợ chồng chị sống ly thân nhau không quan tâm đến nhau.

Đi với anh Nguyễn Văn C dù biết chị Th có đơn xin ly hôn, anh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng anh C vắng mặt tại Tòa án và không có ý kiến trình bày quan điểm, nguyện vọng của mình về tình trạng hôn nhân, chứng tỏ anh C không còn thiết tha níu kéo tình cảm vợ chồng. Ngoài ra theo ông Chính là bố đẻ anh C cho biết vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, nguyện vọng của anh C cũng xin được ly hôn với chị Th.

Xét thấy, nguyện vọng xin được ly hôn của chị Th là có cơ sở, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, kéo dài trong nhiều năm, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân và không ai quan tâm đến ai. Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây chị Th đã thực sự không còn tình cảm với anh C và anh C bỏ mặc việc giải quyết vụ án không thiết tha níu kéo tình cảm vợ chồng. Do đó nếu buộc anh chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng khó cải thiện được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th và căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Th được ly hôn anh C là phù hợp.

[3] Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Nguyễn Ngọc Bảo Ng, sinh ngày 29/6/2012. Ly hôn chị Th đề nghị được nuôi con. Chị Th đã xuất trình trích lục giấy khai sinh của cháu Ng và có ghi tên mẹ là Lê Thị Th và bố là Nguyễn Văn C. Như vậy đủ cơ sở khẳng định cháu Ng là con chung của chị Th và anh C.

Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của chị là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên.

Hi đồng xét xử thấy rằng: Từ khi vợ chồng sống ly thân anh không quan tâm chăm sóc con, chị Th vẫn chăm sóc nuôi dưỡng cháu tốt. Theo ông Chính là bố anh C cho biết anh cũng đồng ý giao con cho chị Th nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra cháu Ng là con gái nên cần sự chăm sóc của mẹ. Do vậy cần áp dụng Điều 81 và 82 Luật HN&GĐ giao cháu Ng cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dương nuôi con: Do chị Th không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không buộc anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.

[3] Về tài sản: Chị Th không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị Th là nguyên đơn trong vụ án nên buộc chị Th phải chịu án phí dân sự hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Văn C.

2. Về nuôi con chung: C nhận vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Ngọc Bảo Ng - Sinh ngày 29 tháng 6 năm 2012.

2.1. Giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo Ng cho chị Lê Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Anh Nguyễn Văn C không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.

2.3. Anh C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Th phải chịu 300.000đ tin án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0000475 ngày 05/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung. Chị Th đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Th, anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. 


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 26/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:23/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về