Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 03/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 23/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 03 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2019/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 381/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A; nơi cư trú: Đường T, phường L, quận N, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Bà Vũ Thị B; nơi cư trú: Đường T, phường L, quận N, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Văn A trình bày:

Năm 1998, ông và bà Vũ Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam và ông bà có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, quận C, thành phố H ngày 08/12/1998. Quá trình chung sống ông bà không hạnh phúc nguyên do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình và tổ dân phố đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn bà B.

- Về con chung: Ông bà có một con chung là Nguyễn Vũ Hải S, sinh ngày 13/10/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông bà không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn bà Vũ Thị B vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn là bà Vũ Thị B cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà B nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải bà B đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn A giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với bà Vũ Thị B.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn A được ly hôn bà Vũ Thị B. Về việc nuôi con: Ông A và bà B có một con chung là Nguyễn Vũ Hải S, sinh ngày 13/10/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết. Về việc chia tài sản: Ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết. Về án phí: Ông A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn bà Vũ Thị B cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Ngày 03 tháng 6 năm 2019, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2019/QĐXXST-HNGĐ và đã tống đạt hợp lệ quyết định trên cho bà B nhưng tại phiên toà ngày 21/6/2019 bà B vắng mặt lần thứ nhất, không có lý do. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên toà số 381/2019/QĐST-HNGĐ trong đó ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 03/7/2019. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho bà B. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Vũ Thị B tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

[3] Ông Nguyễn Văn A và bà Vũ Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, quận C, thành phố H ngày 08/12/1998. Vì vậy, hôn nhân giữa ông A và bà B là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà không hạnh phúc nguyên do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình và tổ dân phố đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Toà án đã tiến hành hoà giải 02 lần nhưng bà B đều vắng mặt thể hiện bà B không thiện chí kết hợp với Toà án để hoà giải việc đoàn tụ gia đình.

[4] Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Quan điểm của địa phương, gia đình xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được đề nghị Toà án giải quyết cho ông A được ly hôn bà B. Xét mâu thuẫn giữa ông A và bà B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông A đối với bà B.

+ Về việc nuôi con:

[5] Ông Nguyễn Văn A và bà Vũ Thị B có một con chung là Nguyễn Vũ Hải S, sinh ngày 13/10/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

[6] Ông Nguyễn Văn A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

[7] Ông Nguyễn Văn A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn A được ly hôn bà Vũ Thị B.

- Về việc nuôi con: Ông Nguyễn Văn A và bà Vũ Thị B có một con chung là Nguyễn Vũ Hải S, sinh ngày 13/10/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về việc chia tài sản: Ông Nguyễn Văn A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015710 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Văn A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Ông Nguyễn Văn A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bà Vũ Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 03/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:23/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về