Bản án 23/2019/DS-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 23/2019/DS-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2017/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019 /QĐXXST-DS ngày 04/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C Việt Nam

Địa chỉ: Số 169 phố L, phường H, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thiên Hoàng Long P – Chức vụ Phó Giám đốc Ngân hàng C huyện N là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 408/UQ-NHCS ngày 27/12/2018)

Địa chỉ: Q, khu phố, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Ngụy Thị Ph, sinh năm 1954 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C Việt Nam (viết tắt: NHC trình bày: Ngày 11/03/2011 bà Ngụy Thị Ph đại diện hộ gia đình đứng tên vay vốn của Ngân C cho theo chương trình học sinh, sinh viên (cho sinh viên Đàng Quang T) với số tiền vay là 18.000.000đ, thời hạn vay 54 tháng, lãi suất là 0.65%/tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 25/9/2015 và gia hạn thêm 12 tháng, mục đích vay để chi phí học tập học sinh, sinh viên. Vào năm 2012 Ngân hàng C có cho bà Ngụy Thị Ph vay số tiền 6.000.000đ theo chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất 0,9%/tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng 25/9/2016. Tổng cộng số tiền 02 khoản vay nêu trên là 24.000.000đ, tính đến ngày 23/7/2019 bà Ph chưa thành toán nợ gốc 02 khoản vay là 24.000.000đ và tiền lãi là 13.505.000 đồng cho Ngân hàng C. Nay Ngân hàng C yêu cầu bà Ph phải trả số nợ gốc 24.000.0000đ và tiền lãi 13.505.000 đồng, tổng cộng là 37.505.000 đồng cho Ngân hàng C Việt Nam. Từ sau ngày xét xử sơ thẩm, lãi còn tiếp tục phát sinh trên nợ gốc theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng vay vốn cho đến khi bà Ph thanh toán xong khoản nợ gốc. Về phần giám định chữ ký thì phía bà Ph yêu cầu giám định thì bà Ph phải chịu số tiền chi phí cho kết quả giám định chữ ký là 2.400.000đ. Ngân hàng C không đồng ý chịu chi phí và yêu cầu bà Ph phải hoàn trả lại số tiền giám định chữ ký 2.400.000đ cho Ngân hàng C Việt Nam.

Bị đơn bà Ngụy Thị Ph trình bày: Bà thừa nhận vào năm 2011 bà có ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng C Việt Nam theo chương trình vay học sinh sinh viên theo từng giai đoan, cụ thể vào ngày 11/3/2011 bà vay là 9.000.000đ, lãi suất 0.5%/tháng, ngày 25/10/2011 bà ký vay 4.500.000đ, lãi suất 0,65%/tháng, ngày 15/3/2012 bà vay tiếp là 4.500.000đ lãi suất 0.65%/tháng. Tổng cộng số tiền vay học sinh sinh viên là 18.000.000đ. Do hoàn cảnh khó khăn bà chưa có khả năng trả số nợ vay 18.000.000đ cùng lãi suất. Còn số tiền vay 6.000.000đ mà Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu bà trả vì Ngân hàng C cho rằng bà đã thực hiện ký kết vay 6.000.000đ theo chương trình vay Nước sạch và vệ sinh môi trường là không đúng thực tế, vì bà không vay số tiền 6.000.000đ nêu trên, nên bà không đồng ý trả số tiền 6.000.000đ cùng với lãi suất cho Ngân hàng C Việt Nam. Nay bà chỉ đồng ý trả số tiền vay học sinh sinh viên 18.000.000đ cùng với lãi suất cho Ngân hàng C Việt Nam, số tiền vay 6.000.000đ theo chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường bà không chấp nhận và không đồng ý trả cho Ngân hàng C Việt Nam. Phần vay theo chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường bà không thừa nhận bà ký vay, nên bà có làm đơn yêu cầu giám định chữ ký nhưng chi phí để giám định chữ ký do bà yêu cầu, bà không đồng ý chịu chi phí 2.400.000đ cho kết quả giám định chữ ký của bà .

Đi diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án đến lúc mở phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng C Việt Nam, bị đơn bà Ngụy Thị Ph đã thực hiện đúng, đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình qua xem xét công khai tại phiên tòa là có cơ sở, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bà Ngụy Thị Ph phải có trách nhiệm trả khoản nợ gốc là 24.000.000đvà lãi suất theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ giai đoạn thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến Quyết định đưa vụ án ra xét xử các đương sự đều có mặt theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C thấy rằng: Bà Ngụy Thị Ph có ký hợp đồng vay vốn theo chương trình học sinh, sinh viên (cho sinh viên Đàng Quang Tr) vào năm 2011 với số tiền vay cho các lần là 18.000.000đ, thời hạn vay 54 tháng, lãi suất là 0.65%/tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 25/9/2015 và gia hạn thêm 12 tháng, mục đích vay để chi phí học tập học sinh, sinh viên và được cấp sổ vay vốn đứng tên bà Ngụy Thị Ph và bà thừa nhận có vay, bà đồng ý trả số tiền vay gốc 18.000.000đ và cùng với lãi suất cho Ngân hàng C, Hội đồng xét xử nghĩ yêu cầu của Ngân hàng C là cơ có sở và chấp nhận.

Vào năm 2012 Ngân hàng C có cho bà Ph vay số tiền 6.000.000đ vay theo chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường, Ngân hàng yêu cầu bà Ph phải trả số nợ gốc 6.000.000đ cùng với lãi suất đến ngày xét xử, nhưng bà Ph không đồng ý và bà cho rằng bà không ký kết vay vốn số tiền nêu trên, bà không đồng ý trả, Ngân hàng C có cung cấp chứng cứ, tài liệu có chữ ký của bà thực hiện vay, bà không thừa nhận đó là chữ ký của bà và ngày 20/4/2018 bà có làm đơn yêu cầu giàm định chữ ký và kết quả giám định chữ ký 2514/C54B ngày 16/7/2018 của Tổng Cục Cảnh sát Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh với nội dụng “Chữ ký “Phấn” tại cột “người vay”, “sổ vay vốn” dùng cho hộ gia đình đề ngày 12/11/12 (ký hiệu A1); chữ ký “Ph” và chữ viết họ tên “Ngụy Thị Ph” dưới mục “Người vay” trên “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn” để ngày 18 tháng 10 năm 2012 (ký hiệu A2); chữ ký “Ph” và chữ viết họ tên “Ngụy Ph” trên “Phiếu chi” đề ngày 11 tháng 11 năm 2012 (ký hiệu A3) so với chữ ký, chữ viết mang tên Ngụy Thị Ph trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người ký, viết ra”. Từ có sở trên Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế bà có thực hiện vay số tiền 6.000.000đ theo chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường của Ngân hàng C, và chữ ký trong các tài liệu chứng cứ theo kết giám định là một chữ ký của bà Ph;

Hi đồng xét xử nghĩ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

Tng cộng số tiền 02 khoản vay là 24.000.000đ, tính đến ngày 23/7/2019 bà Ph chưa thành toán nợ gốc 02 khoản vay là 24.000.000đ và tiền lãi là 13.505.000 đồng cho Ngân hàng C; Hội đồng xét xử buộc bà Ngụy Thị Ph phải trả cho Ngân hàng C Việt Nam tổng cộng là 37.505.000 đồng, trong đó (số nợ gốc 24.000.0000 đồng và tiền lãi 13.505.000 đồng).

Phần chi phí cho việc giám định chữ ký, việc bà không thừa nhận chữ ký của bà trong các tài liệu vay vốn và bà có đơn yêu cầu giám định thì bả phải có trách chịu chi phí giám định chữ ký do bà có yêu cầu, việc Ngân hàng C đã nộp số tiền chi phí kết quả giám định chữ ký 2.400.000đ ngày 18/4/2019 và Ngân hàng C yêu cầu bà Ph phải hoàn trả lại số tiền chi phí trên cho Ngân hàng là phù hợp theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 103 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Thấy rằng, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như bị đơn không có yêu cầu phản tố. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự có thể khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn NHC cung cấp là hợp lệ. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 ngày 30-12- 2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Ngụy Thị Ph là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng NHCVN không phải theo án phí dân sự sơ thẩm theo Điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

[5] Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều khoản 227, khoản 3 Điều 103 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam.

1. Buộc bà Ngụy Thị Ph phải trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi tổng cộng là 37.505.000 đồng (Ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm ngàn đồng), trong đó nợ gốc 24.000.000đ đồng, nợ lãi tính đến ngày 23/7/2019 là 13.505.000 đồng. Buộc bà Ngụy Thị Ph phải hoàn trả số tiền chi phí kết quả giám định chữ ký 2.400.000 đồng cho Ngân hàng C Việt Nam Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 23/7/2019, bà Ngụy Thị Ph còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại 02 Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 20/02/2011 và 24/10/2012 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay vốn, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí: Bà Ngụy Thị Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Ngân hàng C Việt Nam không phải theo án phí dân sự sơ thẩm theo Điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2019).


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/DS-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:23/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Phước - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về