Bản án 23/2019/DS-ST ngày 22/07/2019 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 23/2019/DS-ST NGÀY 22/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2019/TLST-DS ngày 10/6/2019 về “Tranh chấp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-DS ngày 04/7/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện V, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu L, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện V, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn H, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện V, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2019 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Kim C trình bày:

Năm 2014 đến năm 2016 bà có tham gia các dây hụi do bà Phạm Thị Thu L làm chủ thảo và đã mãn hụi nhưng đến nay bà L vẫn không giao tiền hụi cho bà cụ thể:

- Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, một năm khui hụi 02 lần, bắt đầu khui ngày 06/02/2014 âm lịch (al) đến đông xuân năm 2019 mãn hụi, có 11 thành viên, bà tham gia 01 phần, bà hốt lần thứ 11 được số tiền 50.000.000 đồng trừ đi tiền cò 2.000.000 đồng và 5.000.000 đồng phần hụi chết còn lại của dây khác nên còn nhận số tiền 43.000.000 đồng nhưng bà L chưa giao.

- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi một lần, hụi khui ngày 07/3/2017 (al) đến ngày 07/4/2019 (al) mãn hụi, có 27 thành viên, bà tham gia 01 phần, bà hốt hụi lần thứ 25 (tháng 02/2019), bỏ số tiền 550.000 đồng, còn 02 phần hụi sống, bà hốt được số tiền 24.900.000 đồng nhưng trừ tiền cò 400.000 đồng, trả trước hai tháng hụi chết của hai phần hụi còn lại là 2.000.000 đồng nên bà còn nhận được số tiền 22.500.000 đồng nhưng bà L chưa giao.

- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi một lần, hụi khui ngày 17/9/2016 (al) đến ngày 17/10/2018 (al) mãn hụi, có 27 thành viên, bà tham gia 01 phần, bà hốt hụi lần cuối, bà hốt được số tiền 26.000.000 đồng nhưng trừ tiền cò 400.000 đồng, bà còn nhận được số tiền 25.600.000 đồng, sau đó bà Loan trả cho bà được số tiền 11.600.000 đồng, còn 14.000.000 đồng bà L chưa giao.

Tại phiên tòa bà yêu cầu bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H liên đới trả số tiền 79.500.000 đồng.

Bị đơn bà Phạm Thị Thu L trình bày: Qua lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim C bà thống nhất toàn bộ, bà C có tham gia 03 dây hụi do bà làm đầu thảo, bao gồm dây hụi vụ 5.000.000 đồng và 02 dây hụi tháng 1.000.000 đồng, hiện tại bà còn thiếu bà C số tiền 79.500.000 đồng.

Trước yêu cầu khởi kiện của bà C bà đồng ý trả nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần vụ lúa 5.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H trình bày: Ông là chồng của bà Phạm Thị Thu L, ông biết việc bà L làm chủ thảo, thống nhất nợ theo lời trình bày của bà L, đồng ý trả cho bà C số tiền 79.500.000 đồng nhưng xin được trả dần mỗi vụ lúa 5.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hụi, bị đơn bà Phạm Thị Thu L có nơi cư trú tại ấp 2, xã H, huyện V, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2 Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không ai yêu cầu áp dụng nên căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không áp dụng các quy định về thời hiệu trong vụ án này.

[3] Về nội dung khởi kiện:

Giữa bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Thu L, ông Lê Văn H xác định bà Phạm Thị Kim C có tham gia 03 dây hụi do bà Phạm Thị Thu L làm chủ thảo, hụi đã mãn nhưng bà L chưa giao tiền cho bà C với số tiền 79.500.000 đồng nên thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này thể hiện bà L đã vi phạm nghĩa vụ đối với bà C nên phải có nghĩa vụ trả tiền cho bà C. Tuy nhiên, ông Lê Văn H là chồng của bà L cũng đồng ý cùng bà L liên đới trả số nợ 79.500.000 đồng trên cho bà C. Nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim C về việc buộc bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H liên đới trả cho bà Phạm Thị Kim C số tiền 79.500.000 đồng.

Về yêu cầu xin trả dần mỗi vụ lúa 5.000.000 đồng của bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H không được bà Phạm Thị Kim C đồng ý và pháp luật không quy định việc trả dần nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Phạm Thị Kim C được chấp nhận yêu cầu nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí. Bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với mức 5% tính trên số tiền phải trả cho bà Phạm Thị Kim C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ Điều 471, Điều 357 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường; Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim C về việc yêu cầu bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H liên đới trả 79.500.000 đồng.

Buộc bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H liên đới trả cho bà Phạm Thị Kim C số tiền 79.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Văn H phải nộp 3.975.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Hoàn lại cho bà Phạm Thị Kim C 1.988.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ngày 10/6/2019 theo biên lai thu số 0004465.

Báo cho các đương sự được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/DS-ST ngày 22/07/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:23/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về