Bản án 23/2018/HS-ST ngày 28/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 28/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2018, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2018/HSST, ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Dương Văn N, sinh năm 1960 tại Thôn N, xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị B; Bị cáo có vợ là Phạm Thị N và có 02 con; Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn bắt tạm giam từ ngày 27/11/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 27/11/2017 tại Thôn N, xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với công an xã N bắt quả tang Dương Văn N đang có biểu hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khám xét người N, thu được 02 gói nhỏ có chứa chất bột màu trắng tại túi quần bên trái mà N đang mặc, nghi là ma túy. Qua thử phản ứng phát hiện nhanh thì 02 gói chất bột màu trắng trên là ma túy Heroin. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao là 01673.xxx.xxx.

Trên cơ sở đó, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và khu vực phụ cận của Dương Văn N, kết quả thu giữ tại hốc cột nhà gần cửa sổ, cạnh giường ngủ của Dương Văn N 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 05 gói nhỏ có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Dương Văn N khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 26/11/2017 N mua 01 gói nhỏ ma túy với một người đàn ông không quen biết tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên với giá 2.000.000đ nhằm mục đích để sử dụng. Sau khi mua xong, N về nhà và chia gói ma túy mua được thành 10 gói nhỏ, N đã sử dụng 03 gói, còn lại 07 gói N cất giấu tại hốc cột nhà gần chỗ ngủ. Khoảng 10 giờ ngày 27/11/2017, N lấy 02 gói nhỏ ma túy từ chỗ cất giấu cho vào túi quần đằng trước bên trái để mang đi sử dụng thì bị công an bắt quả tang.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có 01 thẻ sim có số thuê bao 01673.xxx.xxx là của N, dùng để liên lạc với người thân trong gia đình.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định trọng lượng ngày 27/11/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ mới, tỉnh Bắc Kạn xác định: 02 gói nhỏ chất bột màu trắng thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái của Dương Văn N có trọng lượng là 0,161 gam, trích 0,018 gam niêm phong trong phong bì có ký hiệu N2 gửi đi giám định; 05 gói nhỏ chất bột màu trắng thu giữ tại hốc cột nhà tại đầu giường ngủ của Dương Văn N có trọng lượng là 0,232 gam, trích 0,043 gam niêm phong trong phong bì có ký hiệu N4 gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 10/KTHS  - MT ngày 05/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng trong 02 phong bì ký hiệu N2 và N4 gửi giám định đều là ma túy, loại Hê rô in".

* Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 08/KSĐT-KT ngày 02/02/2018 truy tố bị cáo Dương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Dương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn N từ 01 năm đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (27/11/2017).

- Về hình phạt bổ sung: Gia đình Dương Văn N thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có tính khả thi. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Dương Văn N.

- Về vật chứng của vụ án:  

Đề  nghị  Hội  đồng  xét  xử  áp  dụng  Điều 41/BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 106/BLTTHS 2015 :Tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng của Dương Văn N để đảm  bảo thi hành án; Tịch thu, tiêu hủy: 01 thẻ sim có số thuê bao 01673.xxx.xxx; 0,143 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N3 và 0,189 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N5.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Dương Văn N nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an  huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Dương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 27/11/2017, tại Thôn N, xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, Dương Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,393 gam chất ma túy (Hê rô in) với mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thì hành vi này của Dương Văn N cần được xem xét, xử lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 quy định:

"1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

b) Các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt , xóa án tích."

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có nội dung:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"”.

[4] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an N xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, có hình phạt thích đáng dành cho bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

[6] Về vật chứng trong vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng của Dương Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu, tiêu hủy: 01 thẻ sim có số thuê bao 01673.xxx.xxx do không có giá trị; 0,143 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N3 và 0,189 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N5.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (27/11/2017).

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41/BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 106/BLTTHS: Tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng của Dương Văn N để đảm bảo thi hành án; Tịch thu, tiêu hủy: 01 thẻ sim có số thuê bao 01673.xxx.xxx; 0,143 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N3 và 0,189 gam ma túy cùng giấy gói tang vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu N5.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05 tháng 02 năm 2018 giữa Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về