Bản án 23/2018/HSST ngày 22/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 23/2018/HSST NGÀY 22/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/HSST ngày 17/04/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn L, sinh năm: 1988 (tên gọi khác: không); ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn ChH, xã TTh, huyện LG, tỉnh BG; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 8/12. Con ông: Hà Văn Th, sinh năm: 1957; Con bà: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1957 (đã chết). Vợ, con: chưa có.

- Nhân thân: Năm 2006 bị Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” với mức phạt là 75.000 đồng, đã chấp hành xong.

- Tiền án:

+ Bản án số 28/2014/HSST ngày 01/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Trị giá tài sản chiếm đoạt là 16.346.000 đồng). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2015, chấp hành xong tiền án phí HSST ngày 11/6/2014.

+ Bản án số 37/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản trộm cắp là 815.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2016 nhưng chưa chấp hành xong tiền án phí HSST và DSST.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

-Người bị hại:

1. anh Hà Văn A, sinh năm: 1983 và chị Lô Thị H, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Thôn ChH, xã TTh, huyện LG, tỉnh BGg. Chị H đã ủy quyền cho chồng là anh Hà Văn A đại diện tham gia tố tụng (anh A vắng mặt).

2. Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1992 ; Địa chỉ: Thôn Ch, xã DK, thành phố BG, tỉnh BG (vắng mặt)

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Thị Ng, sinh năm: 1970; (có mặt)

2. Trần Văn Ngh, sinh năm: 1965 (có mặt)

Địa chỉ: Khu 1, thị trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

3. Hà Văn V, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn TL, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG (vắng mặt)

Người làm chứng: anh Phạm Văn TM, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn PhM, xã XH, huyện LG, tỉnh BG (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn L, sinh năm 1988 ở thôn ChH, xã TTh, huyện LG, tỉnh BG là đối tượng nghiện ma túy, có 02 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2017 đến ngày 26/01/2018, L đã một mình thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Lạng Giang. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Sáng ngày 30/3/2017, L ngủ dậy thì thấy không có ai ở nhà, L nhìn sang nhà anh trai là Hà Văn A, sinh năm 1983 thì thấy cửa nhà khóa. Biết gia đình anh A thường để chiếc xe mô tô nhãn hiệu FuFul do Trung Quốc sản xuất, mầu đỏ đen, biển kiểm soát 98N5- 2232 ở trong nhà nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L đi đến trước cửa nhà anh A, nhặt một thanh sắt hình trụ tròn dài khoảng 40-50 cm rồi cho một đầu thanh sắt vào ổ khóa cửa và dùng hai tay cầm đầu còn lại của thanh sắt bẩy mạnh một lực hướng ra ngoài thì phá được ổ khóa cửa. L mở cửa đi vào trong nhà, tiến đến chỗ chiếc xe mô tô, thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, L dắt xe mô tô ra ngoài, mở khóa điện của xe, nổ máy rồi điều khiển xe đi lên thị trấn K, huyện LG để tiêu thụ. Khi đi đến khu vực đường tàu, thị trấn K thì gặp anh Hà Văn V, sinh năm 1983 ở thôn TL, xã NghH, huyện LG, tỉnh Bắc Giang. L hỏi anh V là có tiền không, cầm cho L chiếc xe mô tô để L lấy ít tiền tiêu. Anh V đồng ý và đưa cho L 700.000 đồng, L cầm tiền rồi giao xe và chìa khóa xe cho anh V. Số tiền có được từ việc bán chiếc xe mô tô trộm cắp, L sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua chiếc xe mô tô của L, anh V đã bán chiếc xe mô tô này cho một người không quen biết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL- HĐ ngày 01/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu FuFul do Trung Quốc sản xuất, mầu đỏ đen, biển kiểm soát 98N5- 2232 đăng ký lần đầu năm 2008 có giá 1.200.000 đồng.

Vụ thứ hai: Trưa ngày 01/5/2017, L cùng anh Phạm Văn T, sinh năm 1994 ở thôn PhM, xã XH, huyện Lg, tỉnh Bắc Giang về nhà anh T chơi. Khi L chơi ở nhà anh T thì anh trai anh Tuất là Phạm Văn TM, sinh năm 1979; anh Nguyễn Mạnh C, sinh 1992 ở thôn Ch, xã DK, thành phố BG đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mầu đỏ đen, biển kiểm soát 98M5- 0590 vào nhà anh T chơi. Đến chiều cùng ngày, anh T cùng mọi người đi chơi, còn L và anh TM ở nhà, thấy xe mô tô của anh C để ở sân, L hỏi anh TM cho mượn chiếc xe mô tô của anh C để đi chơi nhưng anh TM không đồng ý. L ngồi chơi một lúc thì thấy trên đỉnh tủ trong nhà anh T có để chùm chìa khóa xe mô tô của anh C. Lợi dụng lúc anh TM không để ý, L lấy chìa khóa xe mô tô của anh C đi ra sân, mở khóa xe, nổ máy rồi điều khiển xe mô tô của anh C đi lên thành phố Thái Nguyên chơi với bạn tên là U. Sáng ngày 02/5/2017,  L nhờ U tìm hộ chỗ bán xe mô tô. Uyên đồng ý và đưa L mang xe mô tô đi bán cho một người không quen biết được số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán xe trộm cắp của anh Cg, L đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL- HĐ ngày 01/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mầu đỏ đen, biển kiểm soát 98M5- 0590 có giá 8.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Sáng ngày 26/01/2018, L ngủ dậy thì thấy gia đình không có ai ở nhà, L nhìn sang nhà anh trai là Hà Văn A thì thấy anh A và cháu nhỏ đang ngủ. 

L nảy sinh ý định trộm cắp gà của nhà anh A để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L nhặt một bao tải dứa ở sân rồi đi đến khu chuồng nuôi gà của nhà anh A,L dùng tay nhấc tấm ván gỗ quây chuồng gà rồi vào trong chuồng gà thì thấy có khoảng 10 con gà trống, loại gà mía lông mầu đỏ. L dùng tay bắt 07 con gà cho vào bao tải dứa rồi mang cất giấu ở góc vườn nhà. Chiều tối cùng ngày, L mang bảo tải dứa đựng gà trộm cắp lên thị trấn K, huyện LG để tiêu thụ. Khi đi đến khu vực gần Cầu Kép, L nhặt một bao tải dứa ở ven đường rồi san số gà trộm cắp được ra hai bao, một bao đựng 3 con gà và một bao đựng 4 con gà. L cất giấu bao tải dứa đựng 04 con vào một bụi cây ven đường rồi mang bảo tải dứa đựng 03 con lên ngã tư thị trấn K, L gặp một người nam giới quen biết qua mối quan hệ xã hội (L khai không biết tên, địa chỉ của người nam giới), nhờ người nam giới đó tìm hộ chỗ bán gà. Người này đồng ý và đưa L đến nhà ông Trần Văn Ngh, sinh năm 1965 ở Khu 1, thị trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang để bán gà. Đến nhà ông Ngh, người nam giới mang bao gà vào gặp ông Ngh, đặt vấn đề bán gà cho ông Ngh. Ông Ngh đồng ý mua gà và cân 03 con gà thì thấy trọng lượng là 5,8 kg. Sau đó, ông Ngh đưa L và người nam giới ra ngã tư thị trấn K gặp vợ ông là bà Lê Thị Ng, sinh năm 1970 để thanh toán tiền mua gà. Bà Ng đưa cho người nam giới 300.000 đồng, người nam giới cầm tiền rồi đưa lại cho L. L cầm tiền rồi chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 21 giờ cùng ngày, L quay lại khu vực Cầu Kép lấy bao tải dứa đựng 04 con gà còn lại mang vào nhà ông Ngh. L gặp bà Ng (vợ ông Ngh) và đặt vấn đề bán gà cho bà Ng. Bà Ng đồng ý mua gà, cân 04 con gà thì thấy trọng lượng là 8 kg rồi bà Ng đưa cho L 400.000 đồng. L cầm tiền đi chơi và chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua số gà của L, bà Ng đã đem ra chợ bán cho những người không quen biết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL- HĐ ngày 02/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang kết luận: 07 con gà trống loại gà mía, mầu lông đỏ có tổng trọng lượng là 13,8 kg có giá 828.000 đồng.

Bản cáo trạng số 24/KSĐT ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Hà Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, với tổng số tài sản bị cáo trộm cắp 10.028.000 đồng thì hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 điều 173, Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm g, h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 20 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự 2015, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh C số tiền 8.000.000 đồng. Đối với anh Hà Văn A không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị về án phí hình sự, án phí dân sự đối với bị cáo và quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người liên quan.

Bị cáo Hà Văn L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố là đúng. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ông Trần Văn Ngh, bà Lê Thị Ng khai có mua 07 con gà trống loại gà mía tổng trọng lượng 13,8kg, giá là 50.000 đồng/01kg, khi mua không biết là tài sản trộm cắp, ông, bà đã bán số gà trên và không có ý kiến gì khác.

Anh Nguyễn Mạnh C, anh Hà Văn A vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định quyết  tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận, từ ngày 30/3/2017 đến ngày 26/01/2018, bị cáo đã thực hiện ba vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Lạng Giang, cụ thể:

Ngày 30/3/2017, lợi dụng vợ chồng anh Hà Văn A không có nhà, bị cáo đã có hành vi phá khóa cửa nhà anh A và lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu FuFul, do Trung Quốc sản xuất, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98N5-2232 bán lấy tiền ăn tiêu.

Ngày 01/5/2017, tại gia đình nhà anh TM ở thôn PhM, xã XH, huyện LG, bị cáo đã lén lút lấy chiếc chìa khóa xe máy,  mở khóa điện, rồi lấy xe  mô  tô YAMAHA Sirius mầu đỏ đen, biển kiểm soát 98M5- 0590 của anh Nguyễn Mạnh C sau đó đi lên Thái Nguyên bán xe cho một người không quen biết lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Ngày 26/01/2018, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp 07 con gà trống loại gà mía, có tổng trọng lượng 13,8kg của gia đình anh Hà Văn A rồi đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại anh Hà Văn A, anh Nguyễn Mạnh C, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngh, bà Ng và người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để bán và lấy tiền tiêu sài cá nhân với tài sản bị cáo trộm cắp đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tổng trị giá là 10.028.000 đồng, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Năm 2006 bị cáo đã bị công an tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” với mức phạt 75.000 đồng và đã chấp hành xong.

Năm 2014, bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 16.346.000 đồng, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt 12 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/2/2015. Ngày 23/6/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, với trị giá tài sản là 815.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay chưa được xóa án tích, hành vi thực hiện lần này là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52. Bị cáo có 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, song có một lần là 8.000.000 đồng, 02 lần đều dưới mức 2.000.000 đồng nên HĐXX không áp dụng điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự thú về hành vi trộm cắp tài sản trước đó nên được áp dụng điểm r, s khoản 1 điều 51 và bị cáo đầu thú nên được áp dụng khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hà Văn L, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật nhà nước ta bảo vệ, làm mất trật tự an ninh, xã hội tại địa phương, do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[5].Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hiện là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu FuFul, do Trung Quốc sản xuất, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98N5-2232 trị giá 1.200.000 đồng và 07 con gà trống trị giá 828.000 đồng bị cáo trộm cắp của anh Hà Văn A, anh A không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc xe Yamaha –Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 98M5-0590 bị cáo Loan trộm cắp của anh Nguyễn Mạnh Cg không thu hồi được, anh C yêu cầu L bồi thường là chính đáng, do đó buộc L bồi thường cho anh C 8.000.000 đồng theo định giá tài sản.

Đối với anh Hà Văn V, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định anh là người mua xe mô tô FuFul, biển kiểm soát 98N5-2232 do bị cáo L trộm cắp của gia đình anh Hà Văn A, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định được khi mua xe anh V không biết đây là tài sản L trộm cắp mà có, nên cơ quan điều tra, cũng như Viện kiểm sát không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh là đúng pháp luật.

Đối với ông Trần Văn Ngh, bà Lê Thị Ng đã mua số gà do L trộm cắp, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được, khi mua số gà trên ông Ngh, bà Ng không biết đây là tài sản trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Ngh, chị Ng là đúng.

Đối với trường hợp người tên U (do L khai) ở Thái Nguyên đã đưa L đi bán xe mô tô Sirius và một đối tượng ở Kép đưa L đi bán gà, do L khai không biết tên, địa chỉ, nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh đối tượng,   Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối với việc anh Hà Văn Akhai gia đình anh còn bị mất một máy bơm nước, một con gà trống loại gà chọi, quá trình điều tra và tại phiên tòa L không thừa nhận trộm cắp tài sản trên, ngoài ra không có chứng cứ nào khác chứng minh L trộm cắp tài sản trên nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác định không có cơ sở để xem xét là đúng.

[8].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 điều 173; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Các điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 586, 589, điều 357; 468 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ điều 3, điều 21; điểm a, c khoản 1 điều 23, điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Hà Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/01/2018.

+Trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh C số tiền 8.000.000 đồng.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Luật thi hành án dân sự.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HSST ngày 22/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:23/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạng Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về