Bản án 23/2018/HS-ST ngày 11/04/2018 về tội hiếp dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 11/04/2018 VỀ TỘI HIẾP DÂM

Ngày 11 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2018/TLST- HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/HSST-QĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

A (Cu Tí) - Sinh năm: 1994, tại thôn L, xã Ninh H, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T, sinh năm 1963 và bà C, sinh năm 1963; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/01/2018; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà B - Sinh năm: 1949

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông T - Sinh năm: 1974

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, có mặt

2. Ông V - Sinh năm: 1975

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt;

3. Ông N - Sinh năm: 1981

Nơi cư trú: Đội F, thôn M, xã A, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 26/6/2017, sau khi nhậu xong A đi bộ đến nhà bà B ở thôn B, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xin uống nước. Sau đó, A giật bung cửa vào nhà thì bà B la lên và chạy ra cửa, Sự chạy theo ôm bà B lại và giằng co làm bà B ngã xuống đất, A cùng ngã theo nằm lên người bà B. Lúc này, thấy váy bà B bị kéo tốc lên trên nên A nảy sinh ý định giao cấu. A liền dùng một tay tuột quần lót bà B xuống nhưng bà B giãy đạp kéo lên lại, A nắm tay bà B và tiếp tục tuột quần lót bà B xuống rồi mở khóa quần mình ra, bà B kêu la giãy dụa thì sự đưa tay vào cổ bà B đe dọa “Nằm im, bà la tôi bóp cổ bà chết” nên bà B sợ nằm im cho A giao cấu. Sau khi giao cấu xong, A thả bà B ra rồi lên giường nằm ngủ, còn bà B gọi người nhà đến bắt A giao cho Công an xã T xử lý. Sau khi phạm tội A bỏ trốn, đến ngày 27/01/2018 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.

Theo bản kết luận giám định số 2358/C54B ngày 14/9/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên mẫu dịch âm đạo và quần lót của bà B đều có chứa tinh trùng trùng với kiểu gen của A.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSNH ngày 12 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo A về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 111, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo A từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại B yêu cầu bị cáo A bồi thường 15.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại.

Về vật chứng: 01 áo vải màu hồng kích thước 50x90cm; 01 quần lót vải màu trắng kích thước 20x35cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng V, N nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị hại; người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết luận của Kiểm sát viên. Như vậy, hành vi của bị cáo A đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng việc người bị hại lớn tuổi, ở một mình và đêm tối vắng người để đe dọa, uy hiếp nhằm thực hiện hành vi giao cấu với bị hại. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bị hại, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm giảm sút lòng tin giữa con người với nhau. Do vậy, cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, xử phạt bị cáo mức án nghiêm và cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại B yêu cầu bị cáo A bồi thường 15.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo và người bị hại. Bị cáo A phải bồi thường cho bị hại B 15.000.000đ.

[4] Về vật chứng: 01 áo vải màu hồng kích thước 50x90cm; 01 quần lót vải màu trắng kích thước 20x35cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 12/02/2018.

[5] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 111; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Căn cứ Điều 106; 136; 293; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự.

Xử phạt: Bị cáo A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội "Hiếp dâm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/01/2018).

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo A và bị hại B. Bị cáo A phải bồi thường cho bị hại B 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án dân sự được quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) áo vải màu hồng kích thước 50x90cm; 01 (Một) quần lót vải màu trắng kích thước 20x35cm không còn giá trị sử dụng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thị xã Ninh Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 12 tháng 02 năm 2018.

Về án phí: Bị cáo A phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000đ (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.


124
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 23/2018/HS-ST ngày 11/04/2018 về tội hiếp dâm

    Số hiệu:23/2018/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:11/04/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về