Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 14/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN LỘC NINH, TÌNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thanh P, sinh năm: 1991 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

2. Bị đơn: Ông La Đình S, sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 4 năm 2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh P trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Đoàn Thị Thanh P tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn với ông La Đình S vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, ông S thiếu sự quan tâm, chia sẻ nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ tháng 9/2015 cho đến nay. Nay bà P xin ly hôn với ông S.

- Về con chung: Bà P và ông S có 01 con chung tên La Phương U - sinh ngày 23/5/2009, hiện con đang sống chung với bà P. Khi ly hôn bà P xin nuôi con, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà P không có mang thai, vợ chồng không có con nuôi.

- Về tài sản chung: Trước khi kết hôn bà P và ông S không bên nào có tài sản riêng. Tài sản chung hiện nay cũng không có.

- Về nợ: Bà P và ông S không nợ ai cũng không ai nợ lại.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn ông La Đình S trình bày:

- Về hôn nhân: Ông S thống nhất với bà P về hôn nhân, thời gian mâu thuẫn và thời gian sống ly thân. Nhưng ông S cho rằng ông có quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn vợ chồng không nghiêm trọng, ông cũng không đồng ý ly hôn với bà P vì còn yêu thương vợ con.

- Về con chung: Ông S thống nhất như bà P trình bày. Trong trường hợp có ly hôn thì ông S đồng ý để cho bà P nuôi dưỡng con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành pháp luật, Tòa án đã tiến hành triệu tập và niêm yết theo luật định. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội Đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh P

+ Về hôn nhân: Bà P được ly hôn với ông S.

+ Về con chung: Giao cháu La Phương U sinh ngày 23/5/2009 cho bà P nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng: Bà Đoàn Thị Thanh P có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông La Đình S, đồng thời giải quyết về con chung giữa bà P và ông S. Xét ông S cư trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện L thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là ông La Đình S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông S tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 21/10/2009 của Ủy ban nhân dân xã L nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông S là hợp pháp.

[3] Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù tại phiên tòa ông S vắng mặt, nhưng căn cứ biên bản lấy lời khai đối với ông S và biên bản hòa giải ngày 12/5/2018 của Tòa án thì ông S và bà P đều thừa nhận mâu thuẫn giữa vợ chồng phát sinh từ năm 2015 và đã sống ly thân từ tháng 9/2015 cho đến nay. Theo bà P thì nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông S thiếu sự quan tâm vợ con nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Ông S không đồng ý nguyên nhân mâu thuẫn vì cho rằng ông có quan tâm đến vợ con và không đồng ý ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Ông S mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2015, trong thời gian sống ly thân và hiện nay các bên vẫn không có biện pháp giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng. Nay bà P xác định không còn tình cảm với ông S và yêu cầu được ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông S đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P

[4] Về con chung: Bà P và ông S có 01 con chung tên La Phương U - sinh ngày: 23/5/2009 hiện đang sống với bà P. Quá trình giải quyết vụ án cháu U có nguyện vọng sống với bà P. Đồng thời các đương sự cũng thỏa thuận giao con cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con, đảm bảo cuộc sống ổn định và điều kiện mọi mặt của con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Thanh P;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đoàn Thị Thanh P và ông La Đình S

2. Về nuôi con chung: Giao con tên La Phương U - sinh ngày: 23/5/2009 cho bà P nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo luật định.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

5. Về án phí: Bà P chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu số 0005811 ngày 18/4/2018.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 14/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về