Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/04/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 12 tháng 4 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 454/2017/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2017 về  việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2018/QĐST- HPT ngày 26/3/2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thu D sinh năm: 1997

Nơi cư trú: Tổ 1 ấp 5, xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

* Bị đơn: Anh Phạm Thanh T sinh năm: 1994

Nơi cư trú: Tổ 12 ấp 5, xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Chị D có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2017, bản tường trình, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu D trình bày:

Chị Huỳnh Thị Thu D và anh Phạm Thanh T quen biết tìm hiểu nhau được thời gian thì hai bên tự nguyện kết hôn và được UBND xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/12/2014. Đây là hôn nhân lần đầu của chị D và anh T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 11/2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không lo làm ăn thường hay đi chơi, không quan tâm đến vợ con. Ngoài ra, do chị D và anh T tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Từ khoảng tháng 12/2016 đến nay chị D và anh T không sống chung với nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn chị D xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung là Phạm Hoàng H, sinh ngày 06/06/2016. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị D và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Phạm Thanh T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 26/3/2018 cho bị đơn anh Phạm Thanh T nhưng tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Thu D và anh Phạm Thanh T khi kết hôn trên cơ sở tự nguyện không vi phạm các điều kiện kết hôn theo luật định và được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/12/2014 (BL 03) nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo hộ.

Trong cuộc sống hôn nhân chị D xác định giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Giữa chị D và anh T không còn sống chung, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng (BL 15 ). Điều này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 29, 31a)

Qúa trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến nay Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T để làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Điều này cho thấy anh T không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T tình trạng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D yêu cầu xin ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận

Về con chung:

Chị D và anh T có một con chung là Phạm Hoàng H, sinh ngày: 06/06/2016.

Xét yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị D là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Bởi lẽ, từ thời gian vợ chồng không còn sống chung với nhau thì con chung do chị D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ngoài ra, do cháu H chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triễn mọi mặt của con chung.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích quy định của pháp luật về quyền được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và nghĩa vụ của người không nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị D xác định đủ điều kiện kinh tế để nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của chị D là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về tài sản: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án, người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành nghiêm về quan hệ tố tụng, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí

Tuyên xử:

Xử cho chị Huỳnh Thị Thu D và anh Phạm Thanh T ly hôn

Về con chung: Giao cho chị Huỳnh Thị Thu D được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là Phạm Hoàng H, sinh ngày: 06/06/2016

Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Thanh T do chị D không yêu cầu.

Khi ly hôn, pháp luật vẫn bảo hộ mọi quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung (quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con …).

Về tài sản: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Huỳnh Thị Thu D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 004524 ngày 22/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Chị D đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết./.


115
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về