Bản án  23/2018/HNGĐ-ST ngày 02/05/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN  23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 02 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 581/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1980; HKTT: Tổ Y, ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; hiện cư trú tại: Số nhà X, tổ Y, ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Minh S, sinh năm 1974; cư trú tại: Tổ Y, ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 11 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị V trình bày:

Chị và anh Trần Minh S tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 1998, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc, từ năm 2013 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do chị và anh S bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau. Chị và anh S không chung sống cùng nhau từ năm 2014 đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị và anh S chung sống có 03 con chung tên Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 05/7/2000; Trần Minh L, sinh ngày 30/3/2003 và Trần Thị Nhã L, sinh ngày 22/12/2009. Chị yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 03 con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Minh S đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để làm việc nhưng anh Sơn không đến nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh S và không tiến hành thủ tục hòa giải được. Do đó, Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục đúng theo quy định để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35, 68, 96, 97, 98, 195, 196, 203 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị V và anh Trần Minh S tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 1998, không đăng ký kết hôn. Anh chị có 03 con chung cháu Trần Thị Mỹ L; Trần Minh L và Trần Thị Nhã L. Chị V yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 03 con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu giải quyết. Do đó, về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị V và anh S là vợ chồng. Giao chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 03 con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị V và anh S.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị V và anh Trần Minh S có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, chung sống như với nhau như vợ chồng từ năm 1998 mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh S không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Trần Minh S có 03 con chung tên Trần Thị Mỹ L; Trần Minh L và Trần Thị Nhã L. Quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với anh S nên không thể hiện ý chí muốn được nuôi con của anh S. Đồng thời, các cháu Trần Thị Mỹ L; Trần Minh L và Trần Thị Nhã L đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 05/7/2000; Trần Minh L, sinh ngày 30/3/2003 và Trần Thị Nhã L, sinh ngày 22/12/2009 là hoàn toàn phù hợp. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh Trần Minh S là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 03 con chung tên Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 05/7/2000; Trần Minh L, sinh ngày 30/3/2003 và Trần Thị Nhã L, sinh ngày 22/12/2009. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 03 con chung.

Sau khi ly hôn, anh Trần Minh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Nguyễn Thị V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh S không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004799 ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án  23/2018/HNGĐ-ST ngày 02/05/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về