Bản án 23/2017/HSST ngày 02/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 23/2017/HSST NGÀY 02/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2017/HSST, ngày 28 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo: Võ Đoàn Thư S, sinh năm 1997, tại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; con ông Võ Cao C và bà Đoàn Thị M; vợ, con chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến nay, có mặt.

Bị hại: Hà Thị Thúy H, sinh năm 1977; trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Văn L, sinh năm 1995; trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 24 tháng 9 năm 2016, bị cáo Võ Đoàn Thư S đi bộ đến nhà bà Hà Thị Thúy H để chơi với Tạ Chí Đ, là con của bà Hà Thị Thúy H. Đến nhà bị cáo thấy chỉ có Tạ Chí Đ đang ngủ và thấy chiếc điện thoại Iphone 5S đang sạc pin ở cạnh giường nên bị cáo đã lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi về nhà. Đến ngày 28/9/2016, bị cáo nhờ Võ Văn L đem cầm cố chiếc điện thoại này và Linh đã cầm cố cho Tạ Việt T để lấy 2.000.000 đồng. Đến ngày chuộc lại, bị cáo không có tiền nên Võ Văn L tự bỏ tiền ra để chuộc và sau đó rao bán trên Facebook cá nhân. Ngày 11/10/2016, Tạ Chí Đ thấy chiếc điện thoại mà L rao bán giống với điện thoại bà H, nên đã mua lại với giá 3.500.000đồng, Đ trả trước cho L 1.000.000đồng và lấy chiếc điện thoại. Sau đó bà H đem đến cửa hàng lúc trước bà đã mua để kiểm tra thì xác định chiếc điện thoại trên là của bà.

Ngày 25/01/2017, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước đã định giá và kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 5S, dung lượng 16GB, màu bạc, đã qua sử dụng có trị giá là 5.600.000đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 6giờ 30phút ngày 24/9/2016, bị cáo đi bộ qua nhà bị hại để chơi với Tạ Chí Đ. Thấy chỉ có Đ đang ngủ và thấy chiếc điện thoại Iphone đang cắm sạc pin, nên bị cáo lấy cái điện thoại này. Đến ngày 28/9/2016, bị cáo nhờ Võ Văn L đi cầm cố và Linh cầm được 2.000.000đ, L đưa cho bị cáo 1.900.000đ, còn 100.000đ L nói là tiền lời và dặn bị cáo 10 ngày sau xuống chuộc lại. Bị cáo không có tiền, nên L đã tự bỏ tiền ra chuộc lại.

Bị hại Hà Thị Thúy H khai: Vào khoảng 7giờ ngày 24/9/2016, nghe Tạ Chí Đ báo là chiếc điện thoại Iphone 5s để trong nhà bị mất và đến tối ngày 10/10/2016, Đ gọi về cho bà nói là L rao bán chiếc điện thoại Iphone 5s giống với điện thoại của bà, nên bà đồng ý đưa tiền để Đ mua lại. Bà đem chiếc điện thoại mua của L đến nơi trước đây bà mua để kiểm tra thì biết đây là điện thoại của mình, nên bà báo cáo với công an xã Phước An xử lý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn L khai: Chiều 28/9/2016, bị cáo S đến nhà nhờ anh đem đi cầm chiếc điện thoại Iphone 5s và anh đã đem cầm cố cho Tạ Việt T lấy 2.000.000đ, anh đưa cho bị cáo 1.900.000đ, anh giữ lại 100.000đ. Đến ngày chuộc lại điện thoại, anh có gọi cho bị cáo nhưng bị cáo không có tiền, nên anh tự chuộc lại và sau đó bán cho Tạ Chí Đ 3.500.000đ.

Người làm chứng Tạ Chí Đ khai: Khoảng 6giờ 45phút, ngày 24/9/2016 anh ngủ dậy thì thấy chiếc điện thoại Iphone 5s lúc tối anh sạc pin đã mất. Đến tối ngày 10/10/2016 gặp L rao bán chiếc điện thoại Iphone 5s giống với điện thoại của mẹ anh, nên anh đồng ý mua với giá 3.500.000đ và đưa trước cho L 1.000.000đ để lấy điện thoại về. Sau đó anh cùng mẹ đi đến chỗ mẹ anh mua ban đầu kiểm tra thì xác định đúng là điện thoại của mẹ anh.

Người làm chứng Tạ Việt T khai: Anh Linh là người mang chiếc điện thoại Iphone 5s màu bạc đến nhờ anh cầm cố với số tiền 2.000.000đ và 10 ngày sau anh L đến chuộc lại.

Tại Bản cáo trạng số 22/QĐ-KSĐT ngày 28 tháng 6 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Võ Đoàn Thư S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã có hành vi lén lút vào nhà bà Hà Thị Thúy H lấy trộm chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone 5s, trị giá 5.600.000đ. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra bị cáo đã hoàn trả tiền cầm cố cho anh Tạ Việt T, bị cáo phạm tội lần đầu và trong trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Đoàn Thư S từ 6 tháng đến 9 tháng tù.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo, của bị hại và lời khai của những người làm chứng phù hợp với nhau và đều xác định bị cáo là người đã có hành vi lấy chiếc điện thoại Iphone 5s của bị hại vào lúc 6 giờ 30 phút ngày 24/9/2016. Bị cáo thực hiện hành vi lấy chiếc điện thoại của bị hại trong lúc nhà bị hại không có ai, chỉ có Tạ Chí Đ nhưng Đ đang ngủ là hành vi lén lút lấy tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo là người có khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả của hành vi đó là xâm phạm đến tài sản của người khác, nhưng bị cáo vẫn thực hiện và chiếc điện thoại mà bị cáo trộm cắp có giá trị là 5.600.000đ, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định  tại khoản 1, Điều 138 của Bộ luật hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phát hiện, bị cáo đã trả lại tiền cho người cầm cố chiếc điện thoại; bị cáo phạm tội lần đầu và trong trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn và đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Các bên đã tự giải quyết xong và không có yêu cầu gì nên tòa không xét.

[5] Những chứng cứ mà Đại diện Viện Kiểm Sát dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan Điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng hình sự qui định; các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đoàn Thư S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Đoàn Thư S 3 (Ba) tháng 11 (Mười một) ngày tù, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến ngày 02/8/2017 là 3 (Ba) tháng 11 (Mười một) ngày. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Võ Đoàn Thư S ngay sau khi kết thúc phiên tòa, nếu bị cáo S không bị giam, giữ về một tội phạm nào khác.

Về án phí:

Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết.


117
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2017/HSST ngày 02/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:23/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuy Phước - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về