Bản án 47/2017/HS-ST ngày 15/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 47/2017/HS-ST NGÀY 15/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Hà Văn N, sinh năm 1991; trú tại: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Hà Văn Đ và bà Bùi Thị B; vợ, con: Không; tiền sự: Không;

Tiền án: Tại Bản án số 78/2014/HSST ngày 31/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 23/3/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2017 đến nay (có mặt).

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Đình M, sinh năm 1978; trú tại: Thôn V, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Hà Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14h ngày 09/7/2017, Hà Văn N, sinh năm 1991 trú tại tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L một mình điều khiển xe đạp trên Quốc lộ 2C hướng đi xã Quang Sơn xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. Đến khu vực thôn Q, xã Q, huyện L, N quan sát thấy nhà chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973 không có cửa cổng và không có người trông giữ nên dựng xe ở mép đường rồi đi bộ vào bên trong tìm kiếm tài sản. N phát hiện thấy 01 con chó đực (loại chó lai béc) lông màu vàng xám đang xích trước hiên nhà nên lại gần tháo dây xích rồi ôm con chó đi xuống khu vực bếp để tiếp tục trộm cắp tài sản khác. Tại đây, N tìm thấy 01 bao tải xác rắn màu vàng bên trong chứa chấu nên đổ toàn bộ chấu ra nền bếp và đúc con chó vào bao tải rồi quay ra ngoài buộc vào xe đạp. Sau đó N mang con chó trộm cắp được đến bán cho Đỗ Đình M, sinh năm 1978 hiện đang tạm trú tại thôn V, xã V, huyện L với giá 200.000 đồng.

Sau khi nhận được trình báo, ngày 10/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch đã tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định và thu giữ tại nơi ở của Đỗ Đình M 01 con chó đực, loại chó lai béc lông màu vàng xám, ở cẳng dưới của 4 chân chó đều có vệt lông màu trắng, 01 bao tải xác rắn màu vàng đã qua sử dụng; thu giữ của Hà Văn N 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh đã cũ phía trước có giỏ màu trắng, 01 con dao bấm màu trắng - đen dài 23cm để phục vụ cho công tác điều tra.

Căn cứ Quyết định trưng cầu định giá số 122 ngày 11/7/2017 của Cơ quan điều tra, ngày 19/7/2017 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lập Thạch có Văn bản số: 117/KL-HĐĐG kết luận: Con chó mà N trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thị D là chó đực lai béc, lông màu vàng xám, nặng 5,7 kg có giá trị bằng 500.000 đồng.

Sau khi xác định chủ sở hữu hợp pháp, ngày 14/7/2017 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị D 01 con chó có đặc điểm như trên, 01 bao tải xác rắn màu vàng. Chị D đã nhận lại tài sản và không có ý kiến, đề nghị gì về Dân sự.

Đối với Đỗ Đình M, quá trình điều tra làm rõ: Khi mang con chó đến, N nói là chó của gia đình do cần tiền nên muốn bán nên M không biết là tài sản do N trộm cắp được mà có. Do đó, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở giáo dục và không đề cập xử lý hình sự. Đối với số tiền đã bỏ ra để mua con chó, do giá trị không lớn nên M không yêu cầu N phải bồi thường số tiền này.

Đối với số vật chứng của vụ án bị thu giữ, đủ căn cứ xác định: Chiếc xe đạp nữ màu xanh đã cũ là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của N, đã dùng làm phương tiện đi trộm cắp và chở tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ. Con dao bấm màu trắng - đen dài 23cm là tài sản riêng của N dùng để sử dụng hàng ngày không liên quan đến vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 47/KSĐT-KT ngày 16 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Hà Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Hà Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người liên quan, biên bản thu giữ vật chứng, …. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 14h00’ ngày 09/7/2017, Hà Văn N một mình điều khiển xe đạp đi trên quốc lộ 2C thuộc địa bàn xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch với mục đích trộm cắp tài sản, khi đến nhà chị Nguyễn Thị D thuộc thôn Q, xã Q, huyện L không có cửa cổng và người trông giữ. N để xe đạp ở ngoài rồi đi vào nhà đến trước hiên nhà tháo dây xích rồi lấy 01 con chó có giá trị là 500.000 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản do bị cáo Hà Văn N thực hiện và trước đó 31/12/2014 Hà Văn N bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi nêu trên do bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị… dưới hai triệu đồng… nhưng đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là thanh niên có sức khỏe, nhưng bị cáo không chịu làm ăn lương thiện, mà ăn chơi đua đòi trộm cắp tài sản lấy tiền ăn tiêu. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 27/9/2008 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 14/6/2011 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”, ngày 26/8/2014 Công an thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại tài sản do tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như tính chất mức độ thực hiện tội phạm thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đề nghị áp dụng hình phạt tù là phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với Đỗ Đình M, khi mang con chó đến, N nói là chó của gia đình do cần tiền nên muốn bán, M không biết là tài sản do N trộm cắp được mà có. Do đó, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở giáo dục và không đề cập xử lý hình sự là phù hợp.

Đối với số tiền M đã bỏ ra để mua con chó, do giá trị không lớn, M không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc xe đạp nữ màu xanh đã cũ là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của N, đã dùng làm phương tiện đi trộm cắp và chở tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ nên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Con dao bấm màu trắng - đen dài 23cm là tài sản riêng của N dùng để sử dụng hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội do giá trị không lớn, bị cáo không đề nghị được nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo N có được do bán tài sản trộm cắp mà có và anh M không yêu cầu N phải trả lại số tiền này nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền trên đối với bị cáo N.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn N 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 11/7/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76, 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh và tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm của Hà Văn N.

Truy thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng do Hà Văn N phạm tội mà có.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2017).

Bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.


85
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2017/HS-ST ngày 15/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:47/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về