Bản án 22/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 về tội mua bán người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 22/2020/HS-ST NGÀY 22/05/2020 VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI

Ngày 22/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 27/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s19/2020/QĐXXST-HS ngày 06/5/2020 đối với:

Bị cáo: Chấu Xuân B (Tên gọi khác: Cư P). Sinh ngày 05/9/2000 tại huyện Kh, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn L, xã B1, huyện Kh, tỉnh Lào Cai;

Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12;

Con ông Cư Chín D (Đã chết) và bà Sùng Thị S ( Đã chết);

Bố nuôi: Chấu Seo Ch; Mẹ nuôi: Trương Quỳnh Ng;

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt Bị cáo bị bắt ngày 30/11/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Lào Cai. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Chấu Xuân B: Bà Trần Thị C - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.( Có gửi bản bào chữa)

* Bị hại: 1. Vàng Thị C1 - Sinh ngày 03/01/2000. Trú tại: Thôn C2, xã H, huyện S1, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Má Thị T - Sinh ngày 03/3/1999. Trú tại: Thôn L1, xã C3, huyện S1, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

3. Giàng Thị S2 - Sinh ngày 03/9/1999. Trú tại: thôn Ph, xã Ch1, huyện C4, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

4. Giàng Thị T1 - Sinh ngày 25/10/1999. Trú tại: thôn H1, xã Ch1, huyện C4, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Sùng Seo V - Đang chấp hành án tại trại Hồng Ca. Có mặt

2. Vàng Seo V1 - Đang chấp hành án tại trại Hồng Ca. Có mặt

3. Cư Seo Q - Đang chấp hành án tại trại Quyết Tiến. Có mặt

4. Thào Seo Tr - Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2019. Trú tại thôn C5 - thị trấn H2, huyện Th, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

* Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Châu A S2 - trú tại: xã M, thị xã S1, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2016 Chấu Xuân B cùng một số đối tượng người Việt Nam cùng làm thuê ở Trung Quốc thực hiện 02 vụ lừa đưa phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc bán lấy tiền chia nhau. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng cuối tháng 4/2016 B đang đi chơi ở Nàn Xi – Trung Quốc thì gặp Sùng Seo V (sinh năm 1996, trú tại thôn Gi, xã B1, huyện Kh, tỉnh Lào Cai). V rủ B tìm phụ nữ để cùng đưa sang Trung Quốc bán lấy tiền chia nhau, B đồng ý. B nói có quen biết Vàng Thị C1 (sinh ngày 03/01/2000) và Má Thị T (Sinh ngày 03/3/1999, cùng trú tại Thôn C2, xã H, huyện S1, tỉnh Lào Cai). Cả hai thống nhất sẽ lừa đưa C1 và T sang Trung Quốc bán.

Khong 08h ngày 02/5/2016 B cùng V đi về Việt Nam qua khu vực thôn L2, xã B1, huyện Kh. Sau đó V gọi điện thoại cho Vàng Seo V (sinh năm 1997, trú tại thôn PB, xã L3, huyện B2, tỉnh Lào Cai) đi xe máy đến đón B, Sùng Seo V đến gặp Thào Seo Tr (sinh ngày 04/02/2002, trú tại thôn C5, thị trấn H2, huyện Th, tỉnh Lào Cai) tại km24, thị trấn H2, huyện Th. Tại đây B nói với V, V1, Tr về việc B có quen biết C1, T và rủ các V, V1, Tr cùng lên thị trấn S1 lừa đưa C1, T sang Trung Quốc bán, các đối tượng trên đồng ý.

Khong 12h cùng ngày, Tr chở Sùng Seo V, Vàng Seo V1 chở B đi bằng 02 xe mô tô (01 xe HONDA, 01 xe Wave không rõ biển kiểm soát) đi lên thị trấn Sa Pa. Khi lên đến nơi, cả bốn thống nhất Vàng Seo V1 cùng B dùng 01 xe mô tô đi đón C1, T còn Sùng Seo V và Tr đợi ở thành phố Lào Cai. B dùng ứng dụng facebook gọi điện thoại cho C1 rủ C1 và T đi về nhà B ở xã B1 chơi và được C1, T đồng ý, hẹn gặp nhau tại khu vực chợ thị trấn S1. Sau khi gặp nhau, B cùng Vàng Seo V đưa C1, T đi bằng 01 xe máy ra đến thành phố L4, lúc này là khoảng 18h cùng ngày, Vàng Seo V1 gọi điện thoại cho Sùng Seo V thông báo đã đón được C1, T rồi tiếp tục cùng B đưa C1, T đến bờ suối tại thôn B3, xã B1, huyện Kh gặp Sùng Seo V và Tr. Tại đây cả bốn đưa C1, T qua suối bằng 02 xe máy đi vào nội địa Trung Quốc đến nhà một người đàn ông Trung Quốc tên là C6. Cả bốn thỏa thuận bán C1, T cho C6 với giá 24.000 CNY, C6 nói khi nào C6 bán được C1, T thì C6 sẽ trả tiền, cả bốn đồng ý. Sáng ngày hôm sau B, Sùng Seo V ở nhà C6 chờ lấy tiền còn Vàng Seo V và Tr đi về Việt Nam trước. Khoảng 03 ngày sau C6 thông báo về việc đưa C1, T đi bán nhưng C1 và T bỏ trốn nên C6 không trả tiền mua C1, T nữa nên B, V đi về Việt Nam thông báo cho Tr, V biết.

Sau khi bỏ trốn được, các bị hại Má Thị T và Vàng Thị C1 đã trở về Việt Nam và tố cáo hành vi của các đối tượng.

Vụ thứ hai: Khoảng tháng 7/2016, Chấu Xuân B cùng Sùng Seo V đi sang khu vực Mã Hoàng Pao thuộc huyện Hà Khẩu, Vân Nam, Trung Quốc chơi thì gặp một người đàn ông Trung Quốc tên là L5 mà B quen từ trước đó. L5 bảo B, V về Việt Nam tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán cho L3, L3 sẽ trả 12.000-15.000 CNY/phụ nữ tùy thuộc vào ngoại hình.

Khong 04 ngày sau B đang ngồi chơi tại quán Internet tại Km24, thuộc thị trấn H2, huyện Th, tỉnh Lào Cai thì Vàng Seo V gọi điện thoại cho B nói Sùng Seo V, Vàng Seo V và Cư Seo Q đang đưa 02 người phụ nữ từ huyện C4 ra thành phố L4 để đưa sang Trung Quốc bán và rủ B cùng tham gia lấy tiền chia nhau, B đồng ý.

Đến khoảng 18h30’ cùng ngày Vàng Seo V một mình đi xe máy đến quán Internet đón B và đưa B đến bờ suối thuộc khu vực thôn L24, xã B1, huyện Kh, tỉnh Lào Cai. Khoảng 30’ sau thì Sùng Seo V và Cư Seo Q đi 02 xe máy chở 02 người phụ nữ đến gồm Giàng Thị S2 (Sinh ngày 03/9/1999; Trú tại thôn Ph, xã Ch1, huyện C4, tỉnh Lào Cai) và Giàng Thị T1 (Sinh ngày 25/10/1999; Trú tại thôn H1, xã Ch1, huyện C4, tỉnh Lào Cai). Tại đây Sùng Seo V và Vàng Seo V1 đánh, ép S2, T1 lội suối biên giới sang Trung Quốc, B và Q đi theo. Khi sang đến Trung Quốc thì S2, T1 bỏ chạy, Sùng Seo V đã giữ được S2 lại. Sau đó cả bốn tiếp tục đưa S2 vào S nội địa Trung Quốc để bán, Sùng Seo V gọi điện thoại cho L5 để thông báo về việc đã đưa được người sang để bán. Đi được khoảng 07km thì cả nhóm gặp L5. B cùng L5 tiếp tục đưa S2 vào S nội địa Trung Quốc để bán còn V, Q, V đi đến nhà một người quen của Sùng Seo V ở Trung Quốc để ngủ qua đêm. B và L5 đưa S2 đến một nhà nghỉ tại Hà Khẩu – Trung Quốc. Tại đây L5 nói với B là chưa bán được S2 nên hẹn khi nào L5 bán được S2 thì L5 sẽ trả tiền. B quay lại gặp V, Q, V nói lại nội dung trên và B sẽ ở lại Trung Quốc chờ nhận tiền. V, Q, V1 đi về Việt Nam còn B ở lại nhà L5 03 ngày chờ lấy tiền nhưng vẫn chưa lấy được nên đi về Việt Nam. Khi về gặp Sùng Seo V, B nói chưa lấy được tiền và không có tiền tiêu nên đã được V đưa cho B 1.500CNY để chi tiêu. Sau đó Chấu Xuân B đi sang Trung Quốc làm thuê đến ngày 30/11/2019 thì bị bắt theo Quyết định truy nã số 04 ngày 27/3/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

Cáo trạng số 13/CT - VKST-P2 ngày 27/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Chấu Xuân B về tội “Mua bán người” theo Điều 150 khoản 2 điểm d , đ , e Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Chấu Xuân B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày lời luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Chấu Xuân B. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chấu Xuân B phạm tội “Mua bán người”. Áp dụng điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17, 58; khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chấu Xuân B từ 05 - 06 năm tù.

Giải quyết trách nhiệm dân sự, tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Chấu Xuân B: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Chấu Xuân B 04 đến 05 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Chấu Xuân B đã cùng Sùng Seo V, Vàng Seo V1, Cư Seo Q, Thào Seo Tr thực hiện 02 vụ lừa đưa 04 phụ nữ Việt nam sang Trung Quốc bán để lấy tiền tiêu xài. Lần thứ nhất vào ngày 02/5/2016 bị cáo đưa chị C1, T sang Trung Quốc bán cho một người có tên là C6 với giá là 24.000.CNY. Lần thứ hai bị cáo đưa hai bị hại là S2 và T1 sang Trung Quốc bán cho một người tên L5 với giá 12.000-15.000 CNY/phụ nữ. Vì vậy hành vi bán bốn người bị hại của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán người” với tình tiết định khung là “Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”, “Đối với từ hai đến năm người”, “ Phạm tội từ hai lần trở lên”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chấu Xuân B về tội “Mua bán người” theo điểm d, đ ,e khoản 2 Điều 150 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Chấu Xuân B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2016 bị cáo đã đồng phạm thực hiện 02 vụ đưa 04 phụ nữ sang Trung Quốc bán để lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo Chấu Xuân B là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ, coi con người như một thứ hàng hóa để mua bán, trao đổi gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tại Bản án số 21/2017/HSST ngày 26/6/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã xử phạt: Sùng Seo V 11 năm tù về tội mua bán người, 14 năm tù về tội Mua bán trẻ em; Vàng Seo V1 10 năm tù về tội Mua bán người, 08 năm tù về tội Mua bán trẻ em; Cư Seo Q 06 năm tù về tội Mua bán người; Thào Seo Tr 03 năm tù về tội Mua bán người. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo B là người thực hành tích cực.

[3] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chấu Xuân B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi thực hiện vụ thứ nhất, bị cáo là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; khi thực hiện vụ thứ hai bị cáo là người dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại khoản 1 Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Chấu Xuân B: Đề nghị xử phạt bị cáo Chấu Xuân B 04 đến 05 năm tù. Là không có căn cứ, không tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

[ 5] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án số 21/HSST/2017 ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Tại phiên tòa những người liên quan Sùng Seo V, Vàng Seo V1, Cư Seo Q, không yêu cầu bị cáo B phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã bồi thường cho các bị hại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6 ] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Chấu Xuân B phạm tội “Mua bán người” Căn cứ vào điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58; khoản 1 Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Chấu Xuân B 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/11/2019.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chấu Xuân B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 về tội mua bán người

Số hiệu:22/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về