Bản án 22/2018/HS-ST ngày 19/11/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 22/2018/HS-ST NGÀY 19/11/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; chồng là ông Trần Văn Bé T (đã chết) và hai người con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1981; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 26/01/2018 bị Công an huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt 2.000.000 đồng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hoàng Oanh - Văn phòng Luật sư Sáu E, thuộc đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 16/02/2018, tại quán nước giải khát của bà Nguyễn Thị Đ thuộc ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Nguyễn Thị N tham gia đánh bạc được, thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài câu cá với bà Cao Thị G và ông Trần Văn O. Giữa bị cáo với bà G và ông O thỏa thuận số điểm chuẩn để phân biệt thắng, thua là 70 điểm, người nào có số điểm cao hơn điểm chuẩn sẽ thắng, thấp hơn điểm chuẩn sẽ thua, 01 điểm thắng, thua sẽ quy đổi thành 1.000 đồng. Khi bắt đầu chơi đánh bạc, bị cáo chuẩn bị số tiền 200.000 đồng, bà G chuẩn bị số tiền khoảng 400.000 đồng, ông O chuẩn bị số tiền khoảng 130.000 đồng dùng để chơi đánh bạc. Các bên đánh bạc đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 17/02/2018, thì giữa bị cáo với bà G, ông O thỏa thuận nâng số tiền thắng, thua từ 01 điểm thắng, thua quy đổi thành 2.000 đồng và tiếp tục chơi đánh bạc đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày thì nghỉ chơi đánh bạc và ngồi tại khu vực trước sân nhà bà Đ. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị cáo, bà G và ông O tiếp tục chơi đánh bạc được, thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh ấn độ. Khi chơi đánh bạc, bị cáo chuẩn bị số tiền 200.000 đồng, bà G chuẩn bị số tiền khoảng 900.000 đồng, ông O chuẩn bị số tiền khoảng 210.000 đồng, dùng để chơi đánh bạc. Theo thỏa thuận giữa bị cáo với những người chơi đánh bạc, đặt số tiền mỗi ván thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 30.000 đồng. Trong lúc bị cáo, bà G và ông O đánh bạc thì có ông Phạm Văn E và ông Nguyễn Văn T đến cùng tham gia chơi đánh bạc, ông E chuẩn bị số tiền 45.000 đồng, ông T chuẩn bị số tiền 50.000 đồng. Các bên đánh bạc đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày thì bị cáo cho rằng mình bị mất số tiền 2.000.000 đồng, nghi ngờ những người cùng tham gia đánh bạc lấy nên đã xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau. Nhận được tin báo, Công an xã Ninh Thới, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đến hiện trường giải quyết vụ việc.

Quá trình xác minh tiền án, tiền sự xác định: Bị cáo Nguyễn Thị N có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc: Ngày 26/01/2018 bị Công an huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt 2.000.000 đồng.

Đối với bà Cao Thị G, ông Trần Văn O, ông Phạm Văn E, ông Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc được, thua bằng tiền nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, Công an huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà G, ông O, ông E mỗi người 1.500.000 đồng. Đối với ông T, do trong quá trình điều tra ông T đang điều trị bệnh nên Công an huyện Cầu Kè sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-HS ngày 17 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ ruột và bà ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, anh ruột được công nhận là Liệt sỹ; vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận những hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; xét thấy các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối nên các quyết định và hành vi trên đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè đã truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tại quán nước giải khác của bà Nguyễn Thị Đ thuộc ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, từ khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16/02/2018 đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 17/02/2018, bị cáo Nguyễn Thị N cùng với bà Cao Thị G, ông Trần Văn O tham gia đánh bạc được, thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài câu cá với số tiền đánh bạc khoảng 730.000 đồng và từ khoảng 03 giờ 30 phút đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/02/2018 bị cáo tiếp tục cùng với bà Cao Thị G, ông Trần Văn O, ông Phạm Văn E, ông Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc được, thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh ấn độ với số tiền đánh bạc khoảng 1.405.000 đồng. Mặc dù số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng để cấu thành tội “Đánh bạc” nhưng trước đó bị cáo đã có một tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa được xóa. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo có đầy đủ sức khỏe, nhận thức được việc đánh bạc thắng, thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do ham lợi, muốn có tiền nhanh để tiêu xài mà bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, bảo đảm cho việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[3] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ ruột và bà ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, anh ruột được công nhận là Liệt sỹ; những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Xét bản luận tội của vị Kiểm sát viên kết luận bị cáo N phạm tội “Đánh Bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, mức hình phạt mà vị Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Bị cáo được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2018/HS-ST ngày 19/11/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:22/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cầu Kè - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về