Bản án 220/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 220/2017/HNGĐ-ST NGÀY 14/7/2017 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 14 tháng 7 nĕm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 140/2017/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 5 nĕm 2017 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương M, sinh nĕm 1963. Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn C, sinh nĕm 1957. Có mặt

Cùng trú tại: Khối phố 6, phường A, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn C kết hôn nĕm 1987, hôn nhân tự nguyện, đĕng ký kết hôn tại Ӫy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, chồng bà thường xuyên bạo lực, đánh đập bà và các con. Vì các con bà đã cố chịu đựng nhưng ông C vẫn không thay đổi. Đầu tháng 5/2017, ông C đánh bà đến phải nhập viện điều trị từ ngày 06/5/2017 đến ngày 15/5/2017 theo Giấy ra viện ngày 15/5/2017 và từ ngày 20/5/2017 đến ngày 23/5/2017 theo Giấy ra viện ngày 23/5/2017 cӫa Bệnh viện Đa khoa Q và bà tiếp tục điều trị từ ngày 23/5/2017 đến ngày 29/5/017 tại Bệnh viện Đa khoa Đ theo giấy ra viện ngày 29/5/2017. Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn C.

Về con chung: Giữa bà và ông Nguyễn C có 03 con chung là Nguyễn M H, sinh nĕm 1988; Nguyễn T H, sinh nĕm 1991; Nguyễn N H, sinh nĕm 1994. Hiện nay các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trương M kết hôn nĕm 1987, hôn nhân tự nguyện, đĕng ký kết hôn tại Ӫy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình sống chung vợ chồng không có mâu thuẩn gì lớn. Tuy nhiên, từ nĕm 2014 đến nay bà M đi theo ông Nguyễn T ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, ông yêu cầu bà M về cáo lỗi với cha bà M nhưng bà M không thực hiện mà còn bưng nồi hương ra khỏi bàn thờ và đòi đập nên ông đánh bà M. Về thương tích cӫa bà M bị chấn thương sọ não điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Q và Bệnh viện Đa khoa Đ là do ông bảo bà M quỳ trước bàn thờ ba bà M để cáo lỗi nhưng bà M không làm mà bỏ chạy, ông đuổi theo nên đầu bà M trúng vào cạnh bàn bị thương chứ không phải do ông đánh bà M. Nay bà M yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì sợ ảnh hưởng đến các con.

Về con chung: Ông và bà M có 03 con chung là Nguyễn M H, sinh nĕm 1988; Nguyễn T H, sinh nĕm 1991; Nguyễn N H, sinh nĕm 1994. Hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và cĕn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương M và ông Nguyễn C xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đĕng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống chung giữa bà M và ông C phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân theo bà M là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, ông C thường xuyên bạo lực, đánh đập bà và các con. Cụ thể, tháng 5/2017, ông Nguyễn C đánh bà đến phải nhập viện điều trị từ ngày 06/5/2017 đến ngày 15/5/2017 theo Giấy ra viện ngày 15/5/2017 và từ ngày 20/5/2017 đến ngày 23/5/2017 theo Giấy ra viện ngày 23/5/2017 cӫa Bệnh viện Đa khoa Q và bà tiếp tục điều trị từ ngày 23/5/2017 đến ngày 29/5/017 tại Bệnh viện Đa khoa Đ theo Giấy ra viện ngày 29/5/2017.

Năm 2008, bà đã làm đơn gửi Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng vì nghĩ đến các con nên bà đã đoàn tụ với ông C. Tuy nhiên, hiện nay mâu thuẩn đó vẫn kéo dài đến mức trầm trọng, hiện tại bà đã ra ngoài thuê nhà sống riêng, không ai quan tâm đến ai nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn C thừa nhận có đánh bà M, nguyên nhân là do bà M có quan hệ ngoại tình với người khác, nhưng hiện tại ông còn rất yêu thương bà M nên ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, bà M không thừa nhận có quan hệ ngoại tình với người khác và cũng không đồng ý đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy:

Năm 2008, bà Trương M đã gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết việc ly hôn giữa bà với ông C, điều này chứng tỏ hôn nhân giữa bà M với ông C đã bắt đầu có mâu thuẩn. Nay, bà tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C vì bà không chịu đựng ông C thêm được nữa bởi ông C thường xuyên bạo lực, đánh đập bà đến phải nhập viện điều trị, ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe cӫa bà.

Tại phiên tòa và tại đơn xác nhận tình trạng bạo lực gia đình cӫa chị Nguyễn M H là con ruột cӫa ông C và bà M thể hiện “tôi sống cùng với ba mẹ trong suốt thời gian qua nên tôi là người chứng kiến toàn bộ quá trình ba tôi hành hung, làm nhục và đe dọa tính mạng mẹ tôi liên tục trong một thời gian dài làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm lý và sự an toàn tính mạng của mẹ tôi”.

Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2017 tại Công an phường A thể hiện Công an phường A có nhận đơn báo cáo cӫa bà M về việc bị ông C bạo hành và đã cử cán bộ xuống nhà ông C, bà M làm việc.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Trương M và ông Nguyễn C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cĕn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nĕm 2014 xét chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trương M, xử cho bà Trương M được ly hôn với ông Nguyễn C.

- Về con chung: Giữa bà M và ông C có 03 người con là: Nguyễn M H, sinh nĕm 1988; Nguyễn T H, sinh nĕm 1991; Nguyễn N H, sinh nĕm 1994. Hiện nay, các con đã trưởng thành, bà M và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trương M phải chịu 300.000 đồng, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của bà Trương M đối với ông Nguyễn C,

- Về quan hệ hôn nhân nhân: Bà Trương M được ly hôn với ông Nguyễn C.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trương M phải chịu 300.000 đồng (Ba trĕm nghìn đồng), nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002720 ngày 12/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thӫ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 220/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về xin ly hôn

Số hiệu:220/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ - Quảng Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về