Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 21/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 09 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lương Thị Tú T, sinh năm 1997 (Có mặt).

Địa chỉ: Số 127, tổ 1, thôn 2B, xã Đông Hà, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1989 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 36A9, ấp P, xã S, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/08/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị Tú Ttrình bày:

Chị và anh Nguyễn Tuấn S tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND xã Đông Hà, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, trước đó anh chị chưa ai có vợ có chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh S thiếu sự quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ con, không chăm lo kinh tế trong gia đình, thường hay cờ bạc dẫn đến vợ chồng cải vả. Tình cảm vợ chồng ngày một rạng nứt, không còn yêu thương và tôn trọng nhau, kéo dài đến tháng 07 năm 2018 chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống, hai vợ chồng ly thân kể từ đó cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, khó để hàn gắn đoàn tụ nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh S.

Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/05/2018. Hiện nay, cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/05/2018 đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị có yêu cầu được tiếp tụ nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành, chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Tuấn S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân mâu thuẫn do anh S có lỡi lẽ xúc phạm chị T khi vợ chồng cãi vã nhau.Tình cảm vợ chồng ngày một rạng nứt, kéo dài đến tháng 07 năm 2018 chị T dọn về nhà cha mẹ ruột sinh sống, hai vợ chồng ly thân kể từ đó cho đến nay. Nay anh S vẫn còn tình cảm với chị T, muốn được hàn gắn đoàn tụ nên anh Skhông đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/05/2018. Hiện nay, cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/05/2018 đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh, anh đồng ý giao cháu T cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh S không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

Anh Nguyễn Tuấn S có đơn xin xử vắng mặt ngày 04/05/2020

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án.

1/ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử:

-Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng quy định.

- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Tkhởi kiện tranh chấp ly hôn và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật là: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” - Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xin ly hôn với bị đơn có hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã S, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về tư cách tố tụng: Chị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh S, xác định chị T là nguyên đơn, anh S là bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ viện kiểm sát, tống đạt các văn bản tố tụng, xác minh, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

2/ Về việc tuân theo pháp luật của HĐXX và thư ký tại phiên tòa: Thực hiện đúng quy định.

3/ Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

4/ Về ý kiến giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh S chung sống từ năm 2017 có đăng ký kết hôn theo quy định. Chị T cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả, mâu thuẫn. Anh S hay dọa nạt và thường xuyên khủng bố tinh thần chị. Tình cảm vợ chồng ngày một rạng nứt, kéo dài đến tháng 8 năm 2018 chị T dọn về ngoại sống riêng, hai vợ chồng ly thân kể từ đó cho đến nay. Chị T yêu cầu ly hôn nhưng anh S không đồng ý, hiện tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu nguyên đơn.

Về con chung: Chị T có nguyện vọng được nuôi cháu chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 08/05/2018, hiện cháu còn nhỏ và được chị T nuôi dưỡng. Nghĩ tiếp tục giao cháu cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp, chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung và mợ chung: không giải quyết.

Bởi các lẽ trên: Căn cứ các Điều 56,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lương Thị Tú T, chị T được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn S.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 08/05/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S.

Về tài sản chung và nợ chung: không giải quyết.

5/ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Tuấn S có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tuấn S là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Lương Thị Tú T khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Tuấn S, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa chị Lương Thị Tú T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Tuấn S. Xét yêu cầu khởi kiện của chị T Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Lương Thị Tú T kết hôn với anh Nguyễn Tuấn S trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Đông Hà, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào 2017 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng theo chị T là do anh S thiếu sự quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ con, không chăm lo kinh tế trong gia đình, cờ bạc dẫn đến vợ chồng mâu thuẩn và anh S đã có những lời lẽ dọa nạt xúc phạm chị T.

Anh S cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng là do anh S có lời lẽ xúc phạm chị T khi vợ chồng cãi vã nhau. Đến giữa tháng 07 năm 2018 chị T dọn về ngoại sống riêng, hai vợ chồng ly thân kể từ đó cho đến nay, anh S và chị T đã hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không kết quả.

Xét cuộc hôn nhân giữa chị T và anh S tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận cho chị Lương Thị Tú T được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn S là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[4] Về con chung: Chị T, anh S thỏa thuận giao các cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 08/05/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Hiện cháu T đang sống cùng chị T. Nên sự thỏa thuận giữa chị T, anh S là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận .

Chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho anh Sơn.

[5] Về tài sản chung: chị T không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: chị T khai không có.

[7] Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chị Lương Thị Tú T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

[8] Xét quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khỏan 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Tú T đối với anh Nguyễn Tuấn S về việc “Ly hôn”. Cho chị Lương Thị Tú T được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn S.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/05/2018 cho chị Lương Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Tuấn S.

Anh Nguyễn Tuấn S được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết, anh S, và chị T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không giải quyết.

4. Về án phí: chị Lương Thị Tú T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 0003263 ngày 27/08/2019 được tính trừ vào án phí.

Chị Lương Thị Tú T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Tuấn Sđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn

Số hiệu:21/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuân Lộc - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về