Bản án 21/2019/HSST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 21/2019/HSST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23/04/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/HSST ngày 15/03/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18 ngày 11 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đ.N.L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 03 năm 1995 tại: Thị xã T.H, tỉnh Nghệ An; Quê quán: Xã H.T, huyện B.T, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P.T, xã T.H, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ tên cha: Đ.N.P – sinh năm 1964 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.Họ tên mẹ: L.T.Q- Sinh năm: 1964 - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện trú tại: xóm P.T, xã T.H, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người con, bị cáo là thứ 2 trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì muốn có ma túy để sử dụng nên vào ngày 03/01/2019, Đ.N.L (trú tại xóm P.T, xã T.H, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An) một mình đón xe khách đi từ thị xã T.H đến khu vực ngã ba S thuộc địa phận xã T.H, huyện Q.H, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy. Khi đang đi bộ trên đường thì Đ.N.L gặp một người đàn ông không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ làm nghề xe lai. L hỏi “có ma túy bán không”, người đàn ông này nói “có”. Sau khi thỏa thuận giá cả, người đàn ông này lấy 01 gói ma túy dạng đá màu trắng có kích thước 01cm x 04cm, bên ngoài được bọc bằng ống nhựa màu xanh sọc trắng quấn băng dính màu đen, bên trong ống nhựa có chứa các hạt tinh thể trong suốt là chất ma túy đá giao cho Đ.N.L; đồng thời Đ.N.L lấy 700.000 đồng ( bảy trăm nghìn đồng) trả cho người đàn ông này. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu gói ma túy đá này vào túi áo ấm bên phải mà Đ.N.L đang mặc rồi đón xe khách đi về Thị xã T.H. Đến khoảng 23h ngày 09/01/2019 vì muốn sử dụng ma túy nên L cầm gói ma túy đá nói trên đi bộ trên quốc lộ 48D thuộc khu vực xóm H.B, xã T.H, thị xã T.H để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị xã T.H phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ.N.L 01(một) gói ma túy hình chữ nhật có kích thước 01cm x 04cm, bên ngoài được bọc bằng ống nhựa màu xanh sọc trắng quấn băng dính màu đen, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt (L khai nhận là ma túy đá). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, sau đó dẫn giải Đ.N.L về trụ sở công an thị xã T.H về để điều tra làm rõ.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định của cơ quan CSĐT Công an thị xã T.H xác định: các hạt tinh thể trong suốt thu được của Đ.N.L có khối lượng 0,15 gam.

Ngày 10/01/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T.H ra Quyết định Trưng cầu giám định số 21 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An yêu cầu giám định các chất tinh thể trong suốt thu giữ của Đ.N.L.

Tại bản Kết luận giám định số 257/KL-PC09(MT) ngày 12/01/2019 phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu hạt tinh thể trong suốt thu giữ của Đ.N.L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 14/03/2019 của VKSND thị xã T.H đã truy tố: Đ.N.L về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt: Đ.N.L từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử : - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại đúng quy định, bên trong chứa 0,1 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của Đ.N.L (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định).

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T.H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T.H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đ.N.L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định:

Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 09/01/2019 tại quốc lộ 48D, đoạn qua xóm H.B, xã T.H, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an thị xã T.H phát hiện, bắt quả tang Đ.N.L có hành vi tàng trữ 0,15gam (không phẩy mười lăm) ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của Đ.N.L đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

[3] Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là người nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu bất chính của mình nên vẫn lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét sau khi phạm tội quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định pháp luật.

[4] Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét bị cáo là đối tượng nghiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra công an Thị xã T.H đã thu giữ:

- 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại đúng quy định, bên trong chứa 0,1 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của Đ.N.L (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định) là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông mà Đ.N.L khai nhận đã bán cho L 0,15g ma túy đá địa phận xã T.H, huyện Q.H, tỉnh Nghệ An với giá 700.000đ, vì không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Đ.N.L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. xử phạt Đ.N.L 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (10/01/2019).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm, được niêm phong lại đúng quy định, bên trong chứa 0,1 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của Đ.N.L (Số ma túy còn lại sau khi đã gửi đi giám định) (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/03/2019 có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã T.H).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Đ.N.L phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HSST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:21/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Thái Hòa - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về