Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 29/01/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 21/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai  vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 265/2018/TLST- HNGĐ ngày 04-12-2018 về việc xin ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10-01-2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23-01-2019 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh A, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

 (Tại phiên tòa có mặt chị T, anh A vắng mặt lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 11 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:

Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thanh A kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và được UBND thị trấn H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09-9-2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh A được thời gian ngắn thì phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm lối sống khác nhau nên trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích đánh cãi chửi nhau. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên đầu năm 2012 vợ chồng đã sống ly thân. Nay nhận thấy tình vợ chồng không còn nên chị T làm đơn xin được ly hôn anh A.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 02-7-2009, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị T xin được nuôi dưỡng cháu B và không yêu cầu anh A phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị T.

Về tài sản chung và công nợ:  Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án đã kết hợp với Ban Công an thị trấn H giao Thông báo thụ lý số 265/TB-TLVA, ngày 04-12-2018 hợp lệ cho anh Nguyễn Thanh A và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh A không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T. Ngày 10-01-2019 Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã giao Quyết định xét xử cho anh Nguyễn Thanh A, tuy nhiên anh A vẫn vắng mặt, không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:

Về việc B theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phám và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vu án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh A không đến Tòa án làm việc là từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh A là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Vũ Thị T ly hôn với anh Nguyễn Thanh A. Về con chung, giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, không buộc anh A phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về thủ tục tố tụng:  Anh Nguyễn Thanh A là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần 02, nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh A.

 [2]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thanh A là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND thị trấn H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 09-9-2008. Do trong cuộc sống vợ chồng tính tình hai người không hợp, quan điểm lối sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Đầu năm 2012, chị T về nhà bố mẹ đẻ ở xã Hải Triều sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, sinh lý và trách nhiệm đối với nhau từ đó đến nay nên chị T đề nghị xin được ly hôn chị A.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị T đối với anh Nguyễn Thanh A thì thấy: Mâu Tẫn vợ chồng giữa chị T và anh A là trầm trọng, chị T và anh A đã sống ly thân thời gian dài nhưng 02 bên không có biện pháp nào để vợ chồng về chung sống đoàn tụ. Vì vậy, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị T đối với anh A là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

 [3]. Về con chung: chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thanh A có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 02-7-2009, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T đề nghị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh A cấp dưỡng tiền nuôi con.

Xét nguyện vọng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị Vũ Thị T thì thấy: Cháu Nguyễn Thanh B hiện đang do chị T nuôi dưỡng; chị T có nghề nghiệp và mức T nhập ổn định; trong quá trình giải quyết vụ án, cháu B có lời khai xin được ở với chị T. Do đó, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của cháu B nên tiếp tục giao cháu B cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị T không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh A được quyền thăm con chung không ai được cản trở việc anh A thực hiện quyền thăm con, nhưng không được lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

 [4]. Về tài sản chung và công nợ: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ. Anh A cũng không có ý kiến gì về tài sản chung và công nợ nên về tài sản chung và công nợ Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

 [5].  Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thanh A.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 02-7-2009 cho chị Vũ Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu B đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Nguyễn Thanh A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị T và được quyền đi lại chăm sóc con, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:  Chị Vũ Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000222 ngày 04-12-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị T đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được tống đạt hợp lệ.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 29/01/2019 về ly hôn

Số hiệu:21/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hải Hậu - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về