Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 27/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 21/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 28/2019/TLST– HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Đỉnh E, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp V, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Chị Đỉnh E có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 13/3/2019.

Bị đơn: Anh Lê Phước T, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp V, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Anh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 13/3/2019.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Bùi Thị Đỉnh E trình bày như sau:

Chị và Anh T qua thời gian tự quen biết, tìm hiểu nhau trên tinh thần tự nguyện đã tổ chức đám cưới vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ban đầu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, dần dần tình cảm vợ chồng phai nhạt, anh chị đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng cũng đã nhiều lần tự hàn gắn nhau nhưng không thành. Do tình cảm không còn nữa nên chị yêu cầu ly hôn với Anh T.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 26/8/1990, Lê Thị Yến O, sinh ngày 01/3/1999, Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007. Cháu Kim Y, cháu Yến O đã trưởng thành nên chị không có ý kiến. Chị đồng ý để Anh T nuôi cháu Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007 và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

* Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Lê Phước T trình bày như sau:

Anh và chị Đỉnh E cưới nhau vào năm 1990 trên tinh thần tự nguyện và không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có hạnh phúc đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn trầm trọng nên đã ly thân nhau, tình cảm vợ chồng không còn nữa, đã hàn gắn nhưng cũng không thành. Nay, chị Đỉnh E có yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 26/8/1990, Lê Thị Yến O, sinh ngày 01/3/1999, Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007. Cháu Kim Y, cháu Yến O đã trưởng thành nên anh không có ý kiến. Anh yêu cầu nuôi cháu Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiêntòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 12/11/2018 của Ủy ban nhân dân xã T, Ủy ban nhân dân xã Đ xác nhận: Qua kiểm tra hồ sơ thì chị Bùi Thị Đỉnh E, anh Lê Phước T không có đăng ký kết hôn tại đây. Thấy rằng, chị Bùi Thị Đỉnh E, anh Lê Phước T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1990 và đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre nhưng không có đăng ký kết hôn và cho đến nay vẫn chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định.

Chị Đỉnh E, Anh T có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định, lẽ ra anh chị phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng anh chị không thực hiện. Cho nên căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ giữa chị Đỉnh E và Anh T là không hợp pháp, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Như vậy, về cơ sở pháp lý không công nhận mối quan hệ giữa chị Bùi Thị Đỉnh E và anh Lê Phước T là vợ chồng.

 [3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 03 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 26/8/1990, Lê Thị Yến O, sinh ngày 01/3/1999, Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007. Thấy rằng, cháu Kim Y, cháu Yến O đã trưởng thành nên không xét đến.

Đối với cháu Lê Quốc V, chị Đỉnh E đồng ý để Anh T tiếp tục nuôi cháu Lê Quốc V và sự thỏa thuận này cũng phù hợp với ý kiến của cháu Việt. Anh Lê Phước T nuôi con nhưng không yêu cầu chị Bùi Thị Đỉnh E cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung, về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Bùi Thị Đỉnh E phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 15, 16, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 228, 238, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận mối quan hệ giữa chị Bùi Thị Đỉnh E và anh Lê Phước T là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 26/8/1990, Lê Thị Yến O, sinh ngày 01/3/1999, Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007. Cháu Kim Y, cháu Yến O đều đã trưởng thành nên không xét đến.

Giao con chung Lê Quốc V, sinh ngày 26/02/2007 cho anh Lê Phước T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện anh Lê Phước T không yêu cầu chị Bùi Thị Đỉnh Ecấp dưỡng nuôi con.

Chị Bùi Thị Đỉnh E không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Thời gian con chung của chị Đỉnh E, Anh T chưa tròn 18 tuổi, chị Đỉnh E được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và Anh T được quyền yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị Đỉnh E phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đỉnh E đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021131, ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Vậy, chị Bùi Thị Đỉnh E đã nộp đủ.

Chị Bùi Thị Đỉnh E, anh Lê Phước T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.


69
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về