Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 31/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

-Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Vân A - sinh năm 1993

Nơi ĐKNKTT: Tổ 2A, phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 15, phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1989

Địa chỉ: Tổ 2A, phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những lời trình bày tiếp theo tại Toà án, chị Hồ Vân A trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn vào ngày 06 tháng 3 năm 2013 tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng với gia đình anh C ở tổ 2A, phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ được khoảng 1 năm. Sau đó, vợ chồng ra làm ăn sinh sống tại tổ 15, phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống không tương đồng, anh C chơi bời không quan tâm đến vợ con nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Từ tháng 6/2018 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hồ Thảo C - sinh ngày 21/02/2014 và Nguyễn Hồ Khánh N - sinh ngày 10/4/2018. Hiện nay con chung đang ở với chị. Ly hôn, chị xin trực tiếp cả 2 nuôi con chung, chị có đủ điều kiện nuôi hai con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung, công nợ,công sức: Không có.

*Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần anh Nguyễn Văn C có mặt tại Trụ sở Tòa án để giải quyết việc chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh C đều vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập và các thông báo hợp lệ. Như vậy, anh C cố tình lẩn tránh, không hợp tác với Tòa án nên không có bản tự khai của anh C và Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định của pháp luật.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ có quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điều 51, điều 56, điều 81, diều 82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Vân A và đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Hồ Vân A được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

-Về con chung: Xử giao cho chị Hồ Vân A trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Hồ Thảo C- sinh ngày 21/02/2014 và Nguyễn Hồ Khánh N - sinh ngày 10/4/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hồ Vân A.

-Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị A trình bày không có, do anh C vắng mặt nên không biết các quan hệ này có hay không, khi nào anh C có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Vân A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Hồ Vân A và anh Nguyễn Văn C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Các đương sự có nơi cư trú tại phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã P theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh C cố tình lẩn tránh, từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, anh C không có bản tự khai và Tòa án không tiến hành hòa giải được. Phiên tòa ngày 24/10/2018, bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn C đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh Nguyễn Văn C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Vân A và anh Nguyễn Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ vào ngày 06/3/2013 đó là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 5 năm, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống không hợp nhau nên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2018, chấm dứt mọi quan hệ. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh C. Hội đồng xét xử nhận thấy, chị A và anh C đã ly thân, chấm dứt quan hệ, không quan tâm đến nhau. Qua biên bản xác minh của chính quyền địa phương nơi vợ chồng anh chị chung sống thì mẫu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân như vậy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị A xin ly hôn anh C là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hồ Thảo C - sinh ngày 21/02/2014 và Nguyễn Hồ Khánh N - sinh ngày 10/4/2018. Hiện nay hai con chung đang với chị A. Anh C vắng mặt tại Tòa án nên không có quan điểm về con chung. Mặt khác, theo quan điểm của chính quyền địa phương cũng như thực tế hai con chung của anh, chị còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ và nên cần giao cho chị A trực tiếp nuôi con chung và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị A không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nhưng quá trình giải quyết vụ án, anh C cố tình vắng mặt, không có bản tự khai nên không biết các quan hệ trên có hay không. Do đó, các quan hệ này được tách ra khi nào anh C có yêu cầu thì Tòa án xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị Hồ Vân A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Hồ Vân A được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2.Về con chung: Giao cho chị Hồ Vân A trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Hồ Thảo C - sinh ngày 21/02/2014 và Nguyễn Hồ Khánh N - sinh ngày 10/4/2018 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hồ Vân A.

Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Hồ Vân A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002062 ngày 09/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã P. Chị Hồ Vân A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị A có mặt có quyền kháng cáo. anh C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 31/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Thọ - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về